Top 8 # La Bàn Phong Thủy La Bàn Phong Thủy Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Bachvietgroup.org

La Bàn Phong Thủy, La Kinh Tiếng Việt

1. Đây là loại La kinh phiên bản mới, có thêm bọt thủy (thước thủy thăng bằng để cân bằng la kinh).

– La kinh Laido được Việt hoá. Các vòng được sắp xếp theo cách giản tiện nhất, quy về một cách xem để dễ sử dụng cho người mới học.

– Mặt la kinh: được làm bằng hợp kim.. Chống rỉ và chống được ăn mòn khi bị tác động bởi ngoại cảnh (ở mức cho phép).

– Kim thiên trì là kim chỉ nam: (mũi tên chỉ về phương nam – 180 độ)

– Công nghệ in: Chuẩn, độ sắc nét cao, không bị phai khi sử dụng.- Thân la kinh (đế) và bàn xoay: Làm bằng gỗ mít.

– Kích thước: 15cm x15cm.

2. Gỗ mít:Gỗ mít là một loại gỗ có tính chất cơ lý ổn định, không cong vênh, ít bị mối mọt. Gỗ có màu vàng sáng, để lâu ngả thành màu đỏ sẫm, có mùi thơm nhẹ, mềm, dẻo, nhẹ. Gỗ mít được dùng rộng rãi trong đời sống của người dân Việt xưa. Trong đời sống tâm linh cây mít được xếp vào là một trong những loại cây thiêng, có nguồn gốc từ trong Văn hóa ấn Độ với tên gọi là Paramitra, khi nhập vào đời sống Văn hóa Việt Nam được gọi tắt là mít. Gỗ mít dùng tạc tượng, tiện khuôn đóng oản và làm nhiều đồ thờ cúng khác, tuyệt đối không làm bằng các loại gỗ tứ thiết (đinh, lim, sến, táu). Đồ bằng gỗ mít dùng càng lâu càng bóng và đẹp. Trong dân gian còn quan niệm rằng trồng mít trong đất ở sẽ như có được một vị thần che chở cho Gia đình. Sở hữu một món đồ làm từ gỗ mít cũng biểu tượng cho sự may mắn và an lành.

Ảnh đế gỗ mít:3. Số vòng La Kinh tiếng việt.

Vòng 1: Thiên trì. Dùng để xác định phương vị. Kim thiên trì luôn chỉ hướng Nam, 180độ.

Vòng 2: Tám quẻ tiên thiên (Càn Khảm Cấn Chấn Tốn Ly, Khôn Đoài).

Vòng 3,4: Vòng Hậu thiên, Tám hướng (Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Bắc, Tây Nam, Tây Bắc, Đông Nam) và độ số hậu thiên của tám quẻ (Nhất Khảm, nhì Khôn,tam Chấn, tứ Tốn, Ngũ Trung, lục Càn, thất Đoài, bát Cấn, cửu Ly).

Vòng 5,6: Tam nguyên long (Thiên nguyên long, Địa nguyên long và Nhân nguyên long) và âm dương, độ số dùng cho kiêm hướng trong Huyền không phi tinh.

Vòng 7,8: Hai mươi tư sơn hướng (chính châm) và phân âm dương (âm dương long).

Vòng 9: Vòng nạp giáp.

Vòng 10: Phương kiếp sát.

Vòng 11: Hoàng tuyền (8 can, 4 quái và 12 địa chi).

Vòng 12: Vòng Trung châm nhân bàn.

Vòng 13: Vòng Phùng châm thiên bàn.

Vòng 14: 60 long thấu địa (60 phân kim).

Vòng 15 đến 22: Bát biến du niên hay là Bát trạch phối quái hậu thiên.

Vòng 23: Xuyên sơn 72 long.

Vòng 24: 120 phân kim.

Vòng 25: Hai tám sao.

Vòng 26: Độ số (được chia nhỏ đến từng độ).

Vòng 27,28: Vòng tràng sinh (vòng âm và vòng dương thuận nghịch).

Vòng 29,30: Vòng phúc đức và cách khởi phúc đức (theo Bát trạch minh cảnh).

Ghi chú: HIện còn hàng.

Liên hệ: 0904136997 hoặc 0962696989

Email: giangha3004@yahoo.com hoặc lakinhtiengviet@yahoo.com.vn

La Kinh Phong Thuỷ Tiếng Việt, La Bàn Phong Thuỷ, La Bàn Huyền Không

La bàn phong thuỷ chỉ đơn thuần là một công cụ để đo đạc.

La bàn phong thuỷ là một công cụ BẮT BUỘC phải có khi bạn học và ứng dụng phong thuỷ chính thống. Tuỳ theo kiến thức trường phái phong thuỷ mà bạn dùng loại thích hợp. Những trường phái cao cấp có thể dùng cho đo đạc kiến thức đơn giản, tuy nhiên những la bàn đơn giản sẽ không thích hợp cho những kiến thức cao cấp khác. “Nồi nào úp vung nấy” có thể đúng cho trường hợp này.

Nhiều thầy phong thủy cho rằng treo La bàn phong thuỷ trước cửa sẽ giúp xua đuổi năng lượng xấu. La bàn phong thuỷ có thể thay đổi hướng của căn nhà. Hay để la bàn phong thuỷ ngay bàn thờ ông Địa thì sẽ giúp cầu tài, bình an mãi mãi. Chúng tôi không đồng tình với quan điểm này.

Phong Thủy là một môn khoa học về năng lượng môi trường sống. Và để cung cấp thông tin cho người thầy phong thuỷ áp dụng phương pháp bố trí nào. La bàn phong thuỷ sẽ thực hiện điều đó. Khảo sát và ra độ số chính xác của ngôi nhà, mảnh đất hay phần mộ. Từ đó, xem những bất động sản đó đang chịu ảnh hưởng từ luồng năng lượng nào tương thích. Đơn giản công dụng của la bàn phong thuỷ là như vậy.

La bàn phong thuỷ tiếng Việt Huyền Không Phi Tinh.

Tường Minh Phong Thuỷ có những loại la bàn khác nhau, tuỳ theo chương trình phong thuỷ học viên nghiên cứu. Khởi đầu bạn có thể tìm mua la bàn phong thuỷ huyền không phi tinh.

Nếu như trường phái Bát Trạch chia 8 hướng là 45 độ gồm hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nam. Tuy nhiên, với huyền không phi tinh vô thường phái, 15 độ sẽ tạo ra sự khác biệt hoàn toàn. Vì thế, bạn dùng la bàn có độ chính xác cực cao để tránh việc xảy ra sai số từ khoảng 1.5 độ. Đó được gọi là tầng lớp kiến thức. Những ai học kiến thức đơn giản thì sử dụng la bàn phong thuỷ đơn giản. Những ai học đơn giản có thể sử dụng loại la bàn phong thuỷ cao cấp. Tuy nhiên, nếu đã học chuyên sâu thì nhất định không dùng la bàn đơn giản. Vì như vậy sẽ không cho họ được thông tin chính xác để thực hành.

Thông tin la bàn phong thuỷ Tiếng Việt Huyền Không Phi Tinh.

La bàn phong thuỷ cung cấp các thông tin sau để xem được hướng nhà, hướng mộ, v.v…

La bàn phong thuỷ Ai Tinh Bàn vận 7 – 8

La bàn phong thuỷ Thông tin Thế Quái.

La bàn phong thuỷ Thông tin Mệnh Quái Năm Sinh Nam Nữ.

La bàn phong thuỷ 72 Xuyên Sơn Long.

La bàn phong thuỷ 20 vòng la bàn

La bàn phong thuỷ Thiên bàn – nhân bàn – địa bàn

La bàn phong thuỷ Nhị thật bát tú

60 thấu địa long

Nội ngoại bàn

64 quẻ huyền Không Đại Qúai

Nơi bán phong thuỷ la bàn phong thuỷ tiếng Việt?

Chúng tôi nói không với la bàn phong thuỷ giá rẻ. Chúng tôi chỉ thiết kế và sản xuất la bàn phong thuỷ đạt chất lượng và tương xứng với chất lượng đó. Những loại la bàn phong thuỷ tiếng Việt giá rẻ bạn có thể mua tại:

Nhà sách

Chợ truyền thống

Mạng online trực tuyến

Tường Minh Phong Thuỷ

Với Tường Minh Phong Thuỷ, chúng tôi là đơn vị duy nhất vừa thiết kế, sản xuất và kiểm định chất lượng. Mỗi la bàn đến tay người sử dụng đạt độ chính xác gần như 100%. So với tỷ lệ không đảm bảo của những loại la bàn phong thuỷ giá rẻ khác trên thị trường.

Mua la bàn phong thuỷ tiếng Việt ở đâu? THƯƠNG HIỆU TƯỜNG MINH PHONG THUỶ

Chất liệu: đồng thau, kim la bàn độ chính xác cao.

Chất lượng ổn định.

Kính Thước: 22cm

Trọng lượng: 900gr

Màu sắc: Đen

Xuất xứ: Việt Nam

Sách hướng dẫn sử dụng la bàn tiếng Việt

Sản xuất bởi: Phong Thuỷ Tường Minh

Lưu ý sử dụng: Tránh va đập, tránh để tiếp xúc trực tiếp dưới đất, tránh rớt vỡ và luôn để kim ở chế độ cân bằng khi không sử dụng.

Thầy Phong Thuỷ Nguyễn Thành Phương

Thành Viên Full Member Hiệp Hội Phong Thủy Quốc Tế IFSA Viện Nghiên Cứu Ứng Dụng Kiến Trúc Phong Thủy – Academy of Feng Shui Applied in Architecture (AFSA) Cố Vấn Cao Cấp công ty TNHH Tường Minh Phong Thuỷ (TMFS) Gỉang Viên Chính Trung Tâm Tường Minh Phong Thuỷ

Gỉang Viên Hợp Tác Đào Tạo các chương trình Gíao Dục Kỹ Năng & Trực Tuyến như Sáng Tạo Việt, Topica, Unica, Ulearn, v.v…

4 Cách liên hệ để nhận trợ giúp từ Tường Minh Phong Thuỷ & chúng tôi sẽ phản hồi thông tin của quý vị trong thời gian sớm nhất.

Địa chỉ văn phòng: số 54, Đinh Công Tráng, Phường Tân Định, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh

Tổng đài Số điện thoại: 08.6681.4141 – 0981.229.461

Hộp thư điện tử: tuvan@phongthuytuongminh.com

Form liên hệ: http://phongthuytuongminh.com/contact

Luận Giải La Bàn Phong Thủy

Cung mệnh: Khôn thuộc Tây tứ trạch Tử vi trọn đời

Phần đông phụ nữ tuổi Mậu Ngọ tính tình cương trực, thẳng thắn, nóng giận nhưng dễ tha thứ. Những người có số mệnh này tuổi trẻ thường lận đận, có thể lập nên sự nghiệp nhưng dễ bị tiêu tán tài sản, gần 40 tuổi mới ổn định về sự nghiệp. Những người sinh vào mùa xuân hoặc mùa hè là thuận mùa sinh, cả đời sống trong cảnh thanh nhàn, sung sướng, lấy chồng giàu sang. Ngược lại những người sinh vào mùa đông hoặc mùa thu cuộc đời lại gặp nhiều biến động, vất vả. Số này thường gặp trắc trở về đường tình duyên và lận đận với gánh nặng gia đình. Nên sống đức độ, tu nhân tích đức để có cuộc sống ổn định khi về già (kiêng ăn thịt chó, mèo, rùa, ngựa, trâu).

Hướng nhà, cửa nhà, ban thờ, phòng khách, phòng ngủ: (Dần, Sinh khí, Quan Quý, Đông Bắc: khoảng 53° – 66°).

Hướng phòng bếp: (Đinh, Lục sát. Khốc khấp, Chính Nam). Phòng vệ sinh, hố ga: (Nhâm, Ôn hoàng, Tuyệt mệnh, Chính Bắc) hoặc (Quý, Tuyệt mệnh, Trường bệnh, Chính Bắc).

Thuộc tính ngũ hành và ứng dụng: Thuộc hành Thổ, màu tương ứng: nâu, vàng, cà phê, con số 2, 5, 8.

Linh vật phong thủy hỗ trợ:

Sức khỏe: Treo Hồ lô gỗ hướng Sinh khí, Phúc Đức, cũng có thể đặt bình hoa to hướng cát tinh.

Trí tuệ: Đặt Tâm kinh, thủy tinh cầu ở phòng khách, thờ Văn Xương Đế Quân theo hướng cát tinh.

Công danh: Đặt ấn thăng quan hoặc các đồ dùng biểu tượng cho nghề nghiệp theo hướng cát tinh.

Tài lộc: Bể cá hướng Tây Nam có 5 hoặc 8 con cá vàng, treo tranh đôi cá chép hướng cát tinh.

1+Design tự tin mang đến cho khách hàng dịch vụ tốt nhất, chất lượng và sự tinh tế trong mỗi sản phẩm.

Đặt tên theo tuổi nên chọn các tên như: Chi, Hoa, Phương, Trà, Như, Thảo, Diệp, Liên, Tú, Đan, Mỹ, An, Dung,…

LIÊN HỆ THIẾT KẾ NHÀ, NỘI THẤT THEO PHONG THỦY

La Bàn Phong Thủy Trung Hoa

Chúng ta đã biết tất cả nguyên lý căn bản trong nghệ thuật Phong Thủy. Tuy nhiên, có một mặt ta chưa đề cập tới đó là : La Bàn Phong Thủy Trung Hoa. Trong chúng ta, có người thắc mắc tự hỏi, tại sao tới gần cuối sách mới nói đến một vật dụng thiết yếu như thế. Xin trả lời vì những lý do như sau : Trước tiên, la bàn địa lý chỉ thực sự dùng đến khi chuyên gia địa lý được mời đến cuộc đất để phác thảo nền móng cho việc xây dựng.

Kế đến họ lấy hướng đặt mồ mả hay “Am phần” (không phải la bàn có phần vụ đặc biệt gì về việc chôn cất mà đơn giản do ít người có đủ sức xây một ngôi nhà mới, mà vì chung cuộc ai ai cũng phải chết). Lý do thứ ba, một điều rất thực dụng là ngay như một chi tiết đơn giản trên mặt la bàn cũng rất khó hiểu nếu người đó chưa có được sự hiểu biết căn bản trong nghệ thuật thực hành Phong Thủy.Đến đây, ta thỏa lòng hiếu kỳ khi được xem la bàn Phong Thủy Trung Hoa. Nhưng còn cần trang bị để hiểu thêm về lịch số Trung Hoa và giải quyết sự bí mật của la bàn trước khi chúng ta có thể vào sâu hơn nữa trên mạng lưới của mặt la bàn.

I.LA BÀN

La bàn, la có nghĩa là mạng lưới, Bàn : mặt đĩa. Trên mặt la bàn là những khoanh tròn chia ra từng ngăn như một mạng lưới nhện. Riêng mặt đĩa có kim chỉ nếu lấy ra khỏi mạng lưới thì giống y như một cái đĩa. Mặt đĩa dựa trên một cái đế vuông và chuyển động được trên đế đó.

Hầu hết, những mẫu La bàn ở viện bảo tàng hay vẽ trong các sách đều thiếu cái đế vuông, đế này rất đơn giản, rõ là không giữ phần vụ gì, nên các người có nhận sự trong viện bảo tàng cho rằng nó chỉ dùng để đặt cái đĩa lên. Đây không đặt ra vấn đề, nhưng vì cái đế vuông có bề ngoài quá đơn giản nên được mô tả trước hết.

Cái đế này hình vuông, có một lõm tròn cho cái đĩa đặt lên và xoay được trên đó. Đáy đĩa khớp với hai sợi chỉ đỏ, luôn chéo qua mặt đĩa ở góc phải – song song với cạnh đế. VN Điều quan trọng là hai sợi dây chỉ này đặt thẳng hàng với cạnh đế, bắt chéo qua đầu nhọn trục kim la bàn và ghim chặt vào đĩa trên. Vì Âm Dương có biểu tượng hình vuông chỉ trái Đất (Thổ) và hình tròn chỉ Trời (Thiên), nên cái đế nhắc đến trái đất và đĩa tròn : chỉ cho Mặt Trời. Chúng ta phải lưu ý cách dùng hai đặc ngữ này trong việc phân chia mặt la bàn.

Nhà Mặt La bàn phức hợp hơn nữa, nó là cái mặt đĩa tròn, trên đó chia thành các góc độ và đặt trên lõm cái đế. Chi . Ở giữa đĩa là la bàn nam châm, cái kim từ tính chỉ về hướng Nam đế hợp với cách dùng bản đồ cổ truyền của Trung Hoa. Sen Kim chỉ vào mặt la bàn có đường chuẩn rõ nét. Người nào vô tình nhìn vào đường chuẩn này ít khi nhận được bề ngoài quá tượng trưng nhưng chính nó lại có phần vụ thiết yếu. Kim chỉ nam được đặt vào một chỗ gọi là “Ao Trời” – có lẽ vì đây là tên của một ngôi sao trong môn Tử Vi Trung Hoa, nó ở gần sao Bắc Đẩu hay vì thời xưa cây kim chỉ nam này để nổi trên nước ?

Bên ngoài Thiên Trì, từ mé đĩa la bàn, chia thành từng vòng xếp lớp với những chữ số và chữ Tàu. Vòng trong cùng có lẽ ghi tên Bát Quái hay xoay chuyển theo ô vuông ma thuật chín số, các số này thường thay bằng những hàng nét chấm, như thể là mẫu các vì sao. Tám đơn quái xếp theo thứ tự của Tiên – Thiên – Đồ, không theo thứ tự bình thường của La bàn Trung Hoa.

Khi dùng đến la bàn để đánh giá phẩm chất địa lý của một điểm xây dựng thì cạnh ngoài của cái đế đặt thẳng hàng cùng với vách tường căn nhà, hay cùng với một cạnh thắng trên cuộc đất hiện trường.

Mặt la bàn bắt đầu chuyển động đến khi đường chuẩn trong Thiên Trì thẳng hàng với cây kim la bàn. Người sử dụng xem kỹ mặt đĩa và ghi dấu nào nằm dưới sợi chỉ đỏ. Trước khi đi vào từng chi tiết một đĩa thì người ta cần hiểu được ngôn ngữ và phần vụ của lịch Tàu.

II. LỊCH TÀU

Trong chúng ta, ai là người muốn hiểu sâu về Phong Thủy cần phải có kiến thức về lịch Tàu, vì các thân chủ thường muốn biết ngày nào tốt nhất để sửa chữa, nới rộng hay phá bỏ ngôi nhà hiện tại. Ta có thể cho rằng đây là việc của thầy Tử Vi nhưng nói chung thì Tử Vi và Địa lý là hai anh em sinh đôi, hiếm khi chia lìa nhau cũng như Thời gian và không gian là điều bất khả phân. Ghi chú : Độc giả nào có kiến thức về Tử Vi đều hiểu rõ lịch Tàu và dễ dàng theo dõi các tiêu đề cho tới phần nào chưa biết.

Vòng mười hai con giáp rất quen thuộc với chúng ta, mỗi con giáp được gán cho tên gọi một năm. Những tên này được dùng vào khoảng thế kỷ thứ bảy trong giới tu sĩ Phật Giáo – cũng gọi là Thập Nhị Chi -12 Chi. Thập Nhị Chi dùng để đếm cho một vòng 12 năm, đến 12 tháng trong 1 năm, 12 giờ trong 1 ngày (1 giờ Tàu bằng 2 giờ Tây) và đặt tên cho từng ngày nữa. Người ta dùng số La Mã I đến XI để kể về vòng con giáp, số thứ nhất (I) là năm con chuột (Tý). Giờ đầu tiên trong ngày bắt đầu từ giờ Tý nửa đêm về sáng, như vậy giờ cuối trong ngày bắt đầu từ 11 giờ khuya tới 1 giờ sáng (giờ Hợi). Vì lý do lịch sử, mà tháng thứ nhất trong năm của lịch Tàu là tháng gồm luôn tiết Đông Chí, trước đó hai tháng. Người Trung Hoa dùng 12 chi tính toán từng ngày nối nhau không cách quãng được vài ngàn năm. Lấy ví dụ, ngày đầu tiên của năm 1900 là ngày thứ XI – ngày Tuất và ngày thứ nhất của năm 2000 là ngày thứ VII ngày Ngọ.

Thập Can được cho là tối cổ, cổ hơn thập nhị chi rất nhiều. Các Can là tên gọi cho mười ngày trong tuần. Có lẽ các Can có trước cả văn tự, vì biểu tượng của chúng là mười số sớm nhất trong mẫu chữ viết. Tên gọi của các vị hoàng đế trong huyền thoại, có lẽ là tên ngày sinh hay ngày lên ngôi báu của các vị. Quy ước đại diện cho các can đánh số từ 1 đến 10. Như vậy, mỗi ngày cũng kèm số của Can đi với số của Chi. Ví dụ số Can cho ngày 1 tháng 1 năm 1900 là số 1 (thuộc chữ Giáp) và ngày 1 tháng 1 năm 2000 sẽ là số 5 (thuộc chữ Mậu).

Thập Can đi với Ngũ Hành như sau : Vòng La bàn; trong cùng chi bát quái Vòng giữa : 12 chi 12 tháng, vòng ngoài 10 can 1. Giáp, Dương Mộc 2. Ất, Âm, Mộc 3. Bính, Dương, Hỏa 4. Đinh, Âm, Hỏa 5. Mậu, Dương, Thổ 6. Kỷ, Âm, Thổ T. Can, Duong, Kim 8. Thân, Âm, Kim 9. Nhâm, Dương, Thủy 10. Quý, Âm, Thủy Số thứ tự của Thập Can, chỉ dùng để nhận diện qua chữ Nho mà thôi, ta đừng nhìn nhầm nó với các số dùng trong toán học, còn khi so với La Bàn thì nó lại có nghĩa khác. Những điều đáng nhớ là số 5 – chữ Mậu và số 5 trong La Bàn cùng là hành Thổ. Tài và La bàn truyền thống Trung Hoa là loại dùng đi biển, loại này không chia các hướng làm hai như la bàn phương Tây quen dùng. Một khi bốn hướng chính đã được chia thành Tám phương (như Bắc, Đông Bắc v.v…).

Tám hướng này còn chia thành hai mươi bốn phần một cách độc đáo. Hệ thống kỳ dị này đặt căn bản theo nhu cầu của nhà Thiên Văn có tương quan đến mười hai phần của bầu trời (làm ra mười hai tháng trong năm và chu kỳ mười hai năm). Với mười hai phần của mặt đồng hồ không may là mặt đồng hồ không được chia thành tám, bởi vậy trong trật tự phân phối tám hướng đồng đều với mười hai phần rồi chia ra hai mươi bốn trên mặt la bàn. Trong Tám hướng thì Bốn điểm là số thứ tự hợp với các vị trí mặt đĩa, nên bốn hướng cạnh (Bàng phương) là Đông – Bắc, Tây – Bắc, Tây – Nam và Đông – in được đặt vào bên cạnh các chính phương.

Nên Tám hướng không ghi vào hai bên cạnh số thứ tự. Ghi nhận các can nối kết với các hành – ta thấy hai căn 9 (Nhân), 10 (Quý) thuộc Thủy là hành của hướng Bắc. Vì vậy hai can này được đặt vào chỗ trống kèm theo hướng Bắc, cũng đồng thời là chỗ của chị thứ I (Tý). Tiếp tục theo dõi, ta sẽ thấy tại sao con 1 (Giáp) và 2 (At) được để hai bên chỗ của hướng Động ở chị thứ IV (Mẹo) và can 3 (Bính), 4 (Đinh) vào hai bên của chi thứ VII (Ngọ) ở hướng Nam, chỉ vào hành Hỏa. Hướng Tây, chỉ hành Kim, can 7 (Canh), 8 (Thân) được đặt vào hai bên chi thứ X (Dậu); nên hai can 5 (Mẫu), 6 (Ký) không kế tới, trong khi hai can này kết hợp với hành Thổ ở Trung ương. Sự phân bố trên mặt la bàn được trình bày trên đồ hình vừa qua. Hệ thống này có vẻ phức tạp, nhưng nó rất cố xưa vì người ta tìm thấy nó trong một ngôi mộ có được coi là thuộc về thế kỷ thứ nhì sau Tây lịch, trong đó có bản đồ hình Thập Nhị Can, Chi.

Định hướng chính của các 24 cung phương trên mặt la bàn được lập lại hai lần bằng một vòng 7,5 độ theo chiều kim đồng hồ và một vòng 7,5 độ ngược chiều kim. Các lý thuyết khác nhau đưa ra để đề cập về sự lập lại của hai vòng này – có thể gồm cả việc dùng nó để phòng hờ sự thay đổi từ trường của trái đất. Trong khi lý do chính lại là chỗ cần sử dụng nó trong môn Phong Thủy. Không bao lâu, chúng ta sẽ thấy mỗi một phần trong 24 cung phương của la bàn đều liên lạc với một vì sao đặc biệt của Phong Thủy cũng như với các yếu tố khác như hai mươi bốn tuần, nhật. Cũng vậy, tám phần của la bàn liên lạc với tám hướng nhà trong một điểm, cứ cho rằng la bàn Trung Hoa định hướng can 10 (Quý) về chính Bắc : là phương Tây.

Từ quan điểm của Bát Quái thì định hướng này cũng là hướng chính Bắc; nhưng những phần tương đồng của hai mươi bốn điểm trên đĩa la bàn lại ở ngoài hàng của can 10 (Quý), theo đó thầy địa lý cứu xét hình thức vòng la bàn được chuyển sang 7,5 độ theo chiều kim đồng hồ, trong đó phương chính Bắc thẳng hàng với can 10 (Quý). Người ta gộp ba tên riêng biệt trên mặt đĩa la bàn : một cái thẳng hàng với chính Bắc được gọi là “Kim chính”, vòng kế tiếp rời sang 7,5 độ ngược chiều kim đồng hồ là “Trung kim” (Xem như lấy 0 đem đặt nó giữa Chính kim và kim kế nó) và một cái nữa chuyển sang 7,5 độ theo chiều kim đồng hồ là 1.

III. TƯƠNG QUAN GIỮA LA BÀN VÀ LỊCH SỬ

Trên mặt la bàn có 24 điếm, mỗi điểm này tương đương với một điểm cũng như với giờ của đồng hồ phương Tây ngày nay. Thực Trung Hoa chia giờ của họ từ 12 thành 24 giờ “Kiểu giờ”, Thiếu giờ trước gọi là “tiền” giờ và “hậu” giờ. Nửa đêm là điểm giữa của Chi I (Tý), giờ đổi, bắt đầu từ 11 giờ đêm đến 1 giờ sáng. “Tiếu tiền giờ” từ 11 giờ khuya đến nửa đêm (12 giờ), “Tiếu hậu giờ” từ nửa đêm đến 1 giờ sáng.

Sự tương quan giữa la bàn và lịch số dược lý giải bởi vị trí của hai mươi tám vì sao (Nhị Thập Bát Tú). Hai mươi bốn cùng phương cho phép người dùng la bàn tìm được vị trí trái đất trong bầu trời bằng cách điều chỉnh vòng nhật kỳ với quỹ đạo thường niên của mặt trời. Nhưng nó không phải là một hệ thống thật chính xác. Thông thường rìa đĩa la bàn có một vòng chia thành 365 4 độ số của Trung Hoa.

Vì thế mỗi độ tượng trưng vị trí thay đổi của mặt trời trong một ngày. Với phương tiện la bàn, người ta dùng được cả ở trái đất và trong thiên văn. Vì mục đích xem thiên thế mà vòng đo độ kế bên được ghi vị trí hai mươi tám vị sao của Trung Hoa nằm dọc theo vùng trời xích đạo. Bằng cách ghi nhận vị trí của trăng tròn, luôn luôn là ngày thứ mười lăm trong tháng lịch Trung Hoa.

Người ta có thể đối chiếu ngày theo lịch Tây và độ số của hai mươi tám vị sao. Tuy nhiên, vị trí của các sao di chuyển bằng một độ, hay một ngày vào khoảng ba mươi năm một lần, vì trí thay đổi định kỳ khác nhau trên mặt la bàn của hai mươi tám vị sao tính vào biến đổi dần dần này (*). Đề cập sâu hơn nữa về những ghi nhận dẫn nhập trong việc sử dụng la bàn để xem thiên văn không nằm trong mục đích của sách này.

* Ghi chú : Để hiểu thêm những điểm ghi nhận về ý nghĩa lịch sử trong việc dời đổi các vị trí của hai mươi tám vì sao trên các mẫu khác nhau của la bàn, xem Chinese Geomancy (Element, 1989), trang 177 và để biết thêm chi tiết về 28 coi Astrology (Aquarius Press, 1987) chương 4 hay The Chinese Astrology Workbook (Aquarian Press, 1988 trang 65 – 77).