Top 4 # Xem Phim Đại Phong Thủy Tập 1 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Bachvietgroup.org

Sitcom – Phim Dài Tập (

—–[ĐL] TẾ CÔNG: LA HÁN PHỤC MỆNH (1995) – 511 tập—–

Châu Minh Tăng, Mộ Ngọc Hoa, Ngọc Thượng, Trần Văn Sơn, Trịnh Chí Vỹ…

 Vốn là Giáng Long La Hán xuống trần cứu nhân độ thế, mặc dù đi tu ở Linh Ẩn Tự nhưng ông không bao giờ giữ chay giới: thích ăn thịt và uống rượu. Bề ngoài lúc nào cũng ăn mặc rách rưới, dơ bẩn.

Tay phe phẩy chiếc quạt đi thong dong, miệng thường nghêu ngao ca hát: “Áo cũng rách, giày cũng rách. Quần áo trên người ta cũng rách. Người cười ta, hắn cười ta. Cả Phật Tổ cũng đang cười ta”.

—–[ĐL] NGHỊCH CẢNH (2002)—–

Giang Quốc Bân, Giang Thanh Hàm Hà Như Vân, Hà Thúc Nguyên, Long Thiệu Hoa, Lý Huệ Anh, Nghê Tề Dân, Ngọc Thượng, Phương Hinh…

Câu chuyện diễn ra vào thời kỳ ĐL dưới sự cai trị của NB. Phim lột tả rõ các ân oán tình thù của gia tộc 3 đời, với các thử thách của đường đời, từng bước chứng kein61 tình thân gia đình, tình yêu thương đan xen là sự khắc khổ với bao gian truân của những mảnh đời sinh sống torng thời kỳ này.

—–[ĐL] TÌNH ĐẦU KHÓ PHAI – 

The Unforgettable Memory (2004-2006) – 864 tập—–

Vương Thức Hiền, Trương Cầm, Trương Phụng Thư, Hàn Du, Lưu Chí Hàn, Lý Lý Nhân, Lý Hưng Văn, Dương Bảo Vỹ, Nhạc Hồng…

Tình Đầu Khó Phai là câu chuyện về số phận vươn lên của mỗi người, về thông điệp cuộc sống. Theo như mình nghĩ,  Tình Đầu Khó Phai chính là mối tình đầy trắc trở, gian nan đến bi thảm của một Vương Thắng Thiên – tay trắng làm nên sự nghiệp với một Phương Lệ Châu – giỏi trong giỏi cả ngoài.

—–[ĐL] VÒNG XOÁY KIM TIỀN – 

The Golden Ferris Wheel (2005) – 400 tập—–

Giang Hồng Ân, Miêu Khả Lệ, Lâm Vy Quân…

Nội dung bộ phim kể về cuộc đời của Thẩm Tái Thiêm, chủ tịch tập đoàn kinh doanh Tân Phú, người đàn ông thành đạt được nhiều người kính trọng. Bắt đầu bằng hai bàn tay trắng, với sự thông minh, nhanh nhạy bắt kịp thời thế của xã hội, ông đã thành công khi sở hữu khối tài sản khổng lồ và trở thành người giàu có nhất Đài Loan. Tuy nhiên, đứng trên đỉnh cao danh vọng cũng đồng nghĩa với sự cô đơn, với những biến cố, thử thách ngày một lớn dần giữa các thành viên trong gia đình và những người xung quanh Tái Thiêm…

—–[TQ] THẦN CƠ DIỆU TOÁN LƯU BÁ ÔN – 

The Amazing Strategist Liu Bo Wen (2006-2008) – 404 tập—–

Huỳnh Thiếu Kỳ, Hoắc Chính Kỳ, Giản Bái Ân, Trần Á Lan, Dương Hoài Dân…

PHẦN I: Đạo cao một trượng – 20 tập (1-20)

PHẦN II: Tình thiên hận hải – 22 tập (21-42)

PHẦN III: Thất tuyệt trận – 27 tập (43-69)

PHẦN IV: Cửu quan thập bát trảm – 30 tập (70-99)

PHẦN V: Trường sinh kiếp – 37 tập (100-136)

PHẦN VI: Long trân châu / Nộ phạm thiên điều – 53 tập (137-189)

PHẦN VII: Hoàng thành long hổ đấu – 120 tập (190-310)

PHẦN VIII: Đại náo nữ nhi quốc – 56 tập (311-367)

PHẦN IX: Bí mật rồng nam vu lý – 36 tập (368-404)

Triều Minh, Lưu Bá Ôn được xem là khai quốc công thần, là cánh tay đắc lực của Hoàng đế Chu Nguyên Chương. Nhưng cũng chính vì sự hơn người ấy, Lưu đã gặp không ít khó khăn do sự tị hiềm của kẻ xấu.

Lợi dụng tình yêu của Chu Hoàng Đế dành cho Nam Phong – công chúa triều Nguyên, và tình yêu của A Tú – thanh mai trúc mã của Lưu Bá Ôn – dành cho Lưu Bá Ôn, Hồ Thừa Tướng âm thầm gây nên sóng gió trong cung đình Đại Minh. Cũng từ đó, triều Minh chao đảo trong làn sóng đấu tranh do bọn gian thần gây nên…

—–[ĐL] KHI NGƯỜI TA YÊU – 

The Spirits of Love (2006–2008) – 788 tập—–

Trương Minh Kiệt, Trần Mỹ Phụng, Long Thiệu Hoa, Lý Chính Dĩnh, Lục Nguyệt, Phương Hinh…

Cuộc sống luôn có những tình cảm mới giúp nhau cảm thấy yêu đời, và trong phim cũng nói lên được những điều này, khi người ta yêu sẽ có những cảm xúc trái chiều, hạnh phúc, đắng cay, vui cười, than khóc và chưa kể những thủ đoạn bất chấp tất cả để dc bên người mình yêu.

—–[ĐL] CHUYỆN BÊN NHÀ MẸ – 

Mom’s house (2008) – 1080 tập—–

Đường Mỹ Vân, Thạch Anh, Thôi Hạo Nhiên, lôi Hồng, Lưu Tú Văn, Chu Tuệ Trân…

“Người ta nói con gái gả ra ngoài như bát nước đổ đi, nhưng nhà mẹ vẫn mãi mãi là nhà của con gái”. Sinh được ba cô con gái, mặc dù hết mực thương yêu nhưng thầy hiệu trưởng Lâm cũng vô cùng nghiêm khắc trong việc dạy dỗ với niềm tin một nền tảng đạo đức vững chắc sẽ giúp con gái tìm được hạnh phúc trong cuộc sống hôn nhân sau này.

Rồi cả ba cô con gái nhà họ Lâm cũng lần lượt theo chồng, rời bỏ mái nhà êm ấm của cha mẹ, họ về làm dâu những gia đình có hoàn cảnh khác nhau và cuộc đời của ba chị em cũng từ đó rẽ lối.

—–[ĐL] ĐỜI SỐNG CHỢ ĐÊM – 

Night Market Life (2009) – 820 tập—–

Lưu Vũ Khiêm, Bành Mẫn Gia, Lý Ngọc Phong, Phó Bội Từ, Phó Hién Hạo, Hứa Dực Xuyên, Trần Mỹ Phụng, Giang Tổ Bình, Nghê Tề Dân, Trương Thần Quang…

Bộ phim khắc họa cuộc sống của các nhân vật ở khu chợ đêm Kim Hoa, tường thuật câu chuyện về cuộc đời và số phận của một thế hệ được sinh ra ở các khu chợ đêm. Phim là chuỗi dài của những tình tiết kịch tính, gay cấn và mâu thuẫn trong các mối quan hệ gia đình, xã hội thường xuyên lên đến mức cao trào.

—–[TQ] LONG DU THIÊN HẠ—–

Vương Xán, Ngô Hạo Thăng, Chu Minh Tăng, Phương Tử Hiên…

PHẦN I (2009) – 38 tập

PHẦN II (2010) – 39 tập: Tú cầu kì án – Quỷ tân nương – Chân giả quốc chủ – Huyện lệnh hồ đồ diệu khâm sai

PHẦN III (2013) – 35 tập: Huyết kỳ lân – Phàn quế đoạn mộng – Vô đồng trần – Đoạn tý quan âm

Tư Mã Ngọc Long sau khi phục quốc, vẫn không quên tìm kiếm Thái hậu thất lạc, Ngọc Long đổi tên thành Sở Thiên Hựu, cùng Trung nghĩa hầu Triệu Vũ, hồng nhan tri kỉ Bạch San San, cùng với Đinh Ngũ Vị tinh thông y thuật, lại hay gây cười, tất cả cùng lên đường tìm kiếm Thái hậu.

Trên đường đi, Ngọc Long cùng mọi người diệt trừ những tên tham quan ô lại, phá được nhiều vụ án ly kỳ, giúp dân tình rửa sạch án oan…

—–[ĐL] TAY TRONG TAY – 

Hands (2011) – 755 tập—–

Giản Bái Ân, Vương Thiệu Vĩ, Tạ Thừa Quân, Liên Tĩnh Văn, Lưu Chí Hàn, Lý Yến, Trần Bội Kỳ, Lâm Hữu Tinh, Lý Dịch, Hoắc Chính Kỳ, Lâm Tú Linh…

Câu chuyện xoay quanh tiệm bánh ú nhân thịt “Giang Ký” trứ danh của nhà họ Giang. Trong khu chợ không ai là không biết đến tiệm bánh của vợ chồng Giang Hải Long và Liêu Lệ Quân. Họ có ba người con ruột và một con nuôi đều ở tuổi trưởng thành, mỗi người một tính cách, tạo nên nhiều tình huống bi hài cười ra nước mắt.

—–[ĐL] PHONG THUỶ THẾ GIA – 

Feng Shui family (2012) – 425 tập—–

Mai Phương, Trần Tùng Dũng , Mã Như Phong, Lâm Tại Bồi, Kha Thúc Nguyên, Lưu Tú Văn…

Ở một trấn nhỏ, có hai anh em Lâm Thanh Phong và Lâm Thanh Thuỷ. Nếu như người anh sống cuộc đời thiếu thốn, nghèo khó thì người em tận hưởng phú quý trong danh vọng, giàu sang

Vào ngày hội lớn, Thanh Thuỷ xin được một quẻ đoán vận mệnh: “Phong Thuỷ thế gia” với ý nghĩa anh em thương yêu, đoàn kết thì gia tộc sẽ hưng thịnh. Nhưng Lại Thanh Thuỷ một mực cho rằng điều đó có nghĩa là tin vào phong thuỷ thì gia đình của ông sẽ trở nên giàu có và những mâu thuẫn cũng thật sự bắt đầu từ đây.

—–[ĐL] THỔ ĐỊA TRUYỀN KỲ (2013) – 120 tập—–

Ngô Trấn Cũ, Quách Thiếu Vân, Liêu Tuấn, Thi Vũ, Trần Đức Dung, Khưu Lâm Lâm…

Trong ngôi miếu nhỏ, gia đình của vợ chồng thổ địa cũng đầy màu sắc như rất nhiều gia đình khác chốn nhân gian, có yêu thương, hiểu lầm, có ghen tuông, hờn giận. Thổ địa gia gia nhân hậu, luôn muốn cứu độ thế gian nhưng lại rất sợ vợ… và bao câu chuyện bi hài cũng bắt đầu từ đó.

—–[ĐL] NHÂN GIAN HUYỀN ẢO (2015) – 1000 tập—–

Một bộ phim về đời sống sâu sắc được khắc họa rõ nét về cuộc đời con người, về nhân sinh xã hội. Con người trải qua bao đời với những hệ quả mà họ đã tạo ra. Cuộc sống có luân hồi và đạo lý, con người sống phải trải qua kiếp nạn theo luật luân hồi.

Người giấy báo ân (194-195)

Chuyển luân vương thẩm kỳ án (225-226)

Áo tiên của thất cô nương (227-228)

Lục tiên đồng đánh mèo (229-236)

Truyền kỳ thạch nhân phố (237-238)

Tiểu thư người cá (239-252)

Đòn gánh vàng của hiếu tử (253-256)

Tình mẫu tử (257-268)

Ma tổ hiện thần uy (269-272)

Tỳ hưu chiêu tài (273-274)

Thuỷ tiên mộng (275-276)

Hỷ thần đùa kim chư (277-280)

Đăng hầu cưới vợ (281-282)

Thiên khuyển kỳ duyên (283-284)

Chiếu cỏ hoá cầu thần (285-290)

Tân nương địa ngục (291-296)

Tế bạch hổ (297-298)

Trư tinh thạch hổ dĩ (299-300)

Lục phủ thiên tế tân doanh (301-306)

Mộng thê (307-308)

Mẹ cam lộ trị thần hay khóc (309-310)

Lệ âm dương (311-314)

Con rối cáo trạng (315-332)

Bạch cầu khai nguyệt (333-336)

Bà thổ địa trị gia (337-340)

Dấu chân tiên (341)

Nước mắt bát gia (342-344)

Ngũ quỷ làm kim sư (345-349)

Quan âm xăm thuốc (350-352)

Cóc và phụng hoàng (353-354)

Nữ cô độc mười tám lấy chồng (355-360)

Thọ tại hoàng công (361-365)

Khiêng vong kỳ đàm (366-369)

Bành hồ thất mỹ nhân (370-373)

Ma đen hoá mỹ nhân (374-376)

Thôn quái hoả (377-380)

Tráng cổ và qui tinh (381-386)

Trụ khói lộc cảng (387-388)

Giếng hầu thám (389-390)

Linh khuyển phá kỳ án (391-396)

Bành hồ gả quan tài (397-402)

Chiêu hồn thu phách tướng quân (404-406)

Chuột tài tặng bí đỏ (407-420)

Tháp ưng thất mỹ (421-424)

Giất trắng kiện âm trạng (425-436)

Trần tịnh cô độ huyết kiếp (437-440)

Kim âm chủ trị ruồi (441-448)

Mẹ quan âm hoài thai tiên (449-454)

Đuôi hổ tạo nhân duyên (455-456)

Cô dâu giấy đòi chồng (457-462)

Truyền thuyết sữa thạch mẫu (463-466)

Thiên lý nhãn tra án (467-472)

Thần chân gác trị trần thủ nương (473-482)

Truyền kỳ mạch liêu hoàn hồn (483-492)

Bí mật của hình nhân (493-498)

Ngũ độc đại công tử (499-506)

Phi thiên thạch trấn quỷ môn quan (507-516)

Lộc cảng hồ lô vấn (517-522)

Bí mật khoả nữ huyệ (523-524)

Duyên trời định (525-526)

Nam phương áo kim ma tố (527-534)

Ngưu chuyển càn khôn (535-536)

Nữ oa và tình thương (537-541)

Chung quỳ náo nguyên tiêu (543-548)

Bao công xử án quỷ mẫu (549-550)

Bà chúa trăn cảm hoá bạch tậc thất (551-554)

Điện mẫu bắt trộm chiếu gương (555-558)

Âm dương đào hoa song phiên khai (559-564)

Thuỷ lưu tiên cô (565-566)

Ma tổ vào ngục 100 năm (567-572)

Bao công xử án diêm vương (573-576)

Kỳ lân đá cứu mẹ (577-580)

Mười tám kho báu kim môn (581-582)

Thnầ y đại đạo công (583-588)

Bà mụ tống tử (589-592)

Bích nhãn tân nương (593-596)

Truyền thuyết cây nhân duyên (597-598)

Đậy hồn (599-600)

Oan hồn về đòi con nuôi (601-604)

Thiềm thử bất hiếu (605-608)

Chiên dầu bao công sống (609-614)

Thập phân liêu lấy kim tầm (615-620)

Thần kê thổ địa công (621-622)

Linh miêu đấu thập bát vương công (623-624)

Câu đố ngôi mộ trống (625-628)

Ốc bươu cô nương (629-630)

Nỗi oan người nhũ mẫu (631-632)

Đầu thành lôi bố thạch (633-636)

Quan cogn6 răng hô (637-638)

Thần linh của hình nộm (640-642)

Ngũ trang vương độ sát nhân ma (643-644)

Xin rùa vàng (645-646)

Lam đàm mạng đổi cá (647-650)

Nguyệt lão và thần tài (651-652)

Mộ người sống phát tài (653-654)

Bốn cảng ngọc hoàng tỉ (655-658)

Bất hiếu tử cưới bà cô hổ (659-660)

Tiễn thần nghèo (661-662)

Minh vương giải oán chú (663-666)

Thiên hậu mất tích 100 ngày (665-668)

Hổ thần ố hoàn nhậm thái tuế (669-672)

Bát tự kết nhân duyên (673-674)

Cây heo ngàn năm (675-678)

Yêu tinh mua mặt (679-680)

Khôi tinh gia trị trộm (681-682)

Hiếu tử thành hoàng gia (683-684)

Miệng bà mai (689-690)

Mỹ nhân tâm kế (691-696)

Thổ địa người nhật bản (697-698)

Huyệt nhền nhện đổi vận (699-700)

Thỏ thần lộng nhân duyên (701-704)

Thành hoàng gia cưới nhị phu nhân (705-706)

Van hà tiên tử (707-708)

Người chó hỏi tiên kiếp (709-714)

Long nữ bái quan âm (715-722)

Chổi thiên địa (723-725)

Cá chép song sinh (726-731)

Muỗi cắn ếch (732-733)

Bán vợ (734-736)

Một lạng thịt độ hoà thượng (737-739)

Giếng nhân duyên (740-741)

Chén trà của con dâu (742-744)

Trạch yên chi vạn đan (745-747)

Ma xui xẻo giả quan âm (748-750)

Bố đại hoà thượng (751-770)

Quan độ đất ma tổ (771-773)

Bia a di đà phật (774-778)

Cưới vợ xấu được phú quý (779-781)

Thái tử tân quân (782-783)

Ngân hàng đại phủ (784-786)

Huyệt cua phát tài (787-791)

Quán trọ tán tiên (792-793)

Kỳ duyên cá chép vàng (794-798)

Cô ghế đẩu (799-801)

Địa ngục a tỳ (802-806)

Bạch tậc thất à khâu võng xá (811-830)

PHẦN III

Thi chuyên liệt nữ hoàng mệnh (46)

Vương gia công thu bộ tướng (47-49)

Thiêng công điểm trạng nguyên (50-69)

Tân nương thần hoan hỷ (71-75)

Thông thiên thần trụ (76-87)

Hồng kỳ công (88-90)

Võ thần tài cầu được ước thấy (91-92)

Truyền kỳ bát chi lan (95-98)

Hổ gia tố hoá độ hổ cụt đuôi (99)

Trương gia công xuất tuần (100-101)

Cây nhân duyên (102-108)

Kim khổng tước học đòi cưới vợ (109-111)

Bí mật nhang trời (118-120)

Thổ địa công hoàn tục (121)

Lão nhị mẫu đền ơn (122-123)

Hắc hổ nghênh thần tài (124-133)

Tiên cô chuyển thế (134-136)

Thiên hậu phường trà (137-139)

Lời nguyền của sư tử đá (140-141)

Truyền kỳ đại đỉnh mất tích (142)

Chiết cổ thụ kỳ đàm (144-145)

Mạng hình nộm (146-148)

Nàng dâu bị nguyền rủa (149-151)

Tam thái tử thương kẻ ngốc (153-158)

Vương quân thiên tuế triển thần quy (169-173)

Kim nương kén rể (174-178)

Vết lở mặt người (179-182)

Nguyệt lão ép hồng loan (183-188)

Kiến trả ơn (189-193)

—–[ĐL] RỒNG BAY PHỤNG MÚA – 

Dragon Dance (2015) – 437 tập—–

Lưu Đức Khải, Diệp Hoan, Phương Tử Hiên, Vương Xán, Phương Hinh, Đường Mỹ Dân, Thạch Anh, Lôi Hồng, Lưu Tú Văn,..

Rơi vào vòng khốn khổ lao lý vì chử tình đã khiến cô gái chịu tội giết cha và bị trừng phạt. Bị đem ra sĩ nhục trước thiên hạ, bị chà đạp nhân phẩn. Đó là chế đồ hà khác của con người thời đó, Phụ nữ không có tiếng nói trong xã hội, chịu nhiều tập tục vô lý. Cùng đón xem để biết cô gái sẽ ra sao và có được hạnh phúc cho mình.

—–[ĐL] TÌNH ĐỜI (2017) – 598  tập—–

Tạ Thừa Quân, Lý Yến, Trần Quán Lâm, Lý Di, Hàn Du, Tăng Tiến Đình…

Phim xoay quanh những người bạn cùng lớn lên dưới mái trường đaị học như Thụy Phong, Di Tú, Triển Hoằng, Giai Giai, Tử Kỳ, Hiểu Đình, Tuấn Hựu, Tứ Giác… Tuy không chung lớp nhưng họ chơi rất thân, luôn sát cánh bên nhau sẳn sàng giúp đỡ nhau khi hoạn nạn, khó khăn. Đặc biệt họ cùng có chung một ước mơ: sống hết mình, cháy hết mình cho tình yêu và khát vọng tuổi trẻ…

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Trảm Long Tập 1: Đại Phong Thủy Sư

Loading…

Trảm Long tập 1: Đại Phong Thủy Sư

Giới thiệu truyện :

Đầu mối duy nhất để tìm Long Quyết là Lục Kiều Kiều, cô gái xinh đẹp sinh sống ở Quảng Châu, chuyên nghề xem bói cho kỹ nữ. Dưới sự sắp đặt của Quốc sư thần bí, cô đã từ bỏ cuộc sống thanh bình ẩn dật, cùng người tình ngoại quốc và chú nhóc đệ tử mới thu nhận bước lên con đường đào vong, giữ kín bí mật lớn của gia tộc.

Vậy nhưng, triều đình Đại Thanh đang lúc đối mặt nguy cơ diệt vong sẽ bỏ qua cuốn sách này chăng? Các cao thủ phong thủy trong thiên hạ sẽ bỏ qua cuốn sách này chăng? Những kẻ manh tâm tranh bá giang sơn liệu có bỏ qua cuốn sách này chăng? Một trận minh tranh ám đấu kịch liệt bắt đầu diễn ra, xoay quanh Lục Kiều Kiều và pho kỳ thư thần bí…

Nhận Định :

“Một cuốn tiểu thuyết về phong thủy và mệnh lý, được viết bởi truyền nhân chính tông của phái phong thủy Giang Tây và Thiên sư đạo.Vừa là phong thủy dẫn nhập, vừa là phiêu lưu kỳ bí. Còn gì tuyệt vời hơn thế!”

Amazon.cn

Tác giả :

Nhà văn Hồng Trần, người Mỹ gốc Hoa, hiện đang sống tại New York, ông là một trong những thầy phong thủy hàng đầu Trung Quốc, là truyền nhân dòng chính của một gia tộc phong thủy cổ xưa, đồng thời là đệ tử thứ 65 của Đạo giáo tại Trung Quốc. Hồng Trần chuyên nghiên cứu về phong thủy địa lý, mệnh lý, phối hợp với công tác thiết kế và quy hoạch của các dự án lớn. Ông là cố vấn phong thủy cho FXDD, chi nhánh New York của ngân hàng HSBC, ngân hàng Abacus Federal Savings và nhiều cơ quan tài chính khác.

Bộ sách Trảm Long gồm có:

2. Tranh đoạt Long Quyết (Tải ebook)

Mời các bạn đón đọc của tác giả Trảm Long tập 1: Đại Phong Thủy Sư Hồng Trần .

Huyền Không Phi Tinh Toàn Tập – Phần 1

Huyền không phi tinh là môn Phong thủy dựa vào thời gian (theo thuyết Tam nguyên cửu vận) và sự di chuyển của 9 con số theo quỹ đạo của vòng Lượng thiên Xích trên đồ hình Bát quái mà đoán định sự cát, hung, được, mất của từng căn nhà (dương trạch) hay phần mộ (âm trạch).

Có thể nói Bát quái chính là sự thu tóm những biến chuyển của Trời, Đất, còn sự di chuyển của Cửu tinh theo vòng Lượng thiên Xích chính là những biến hóa, thay đổi của sự vật. Và có tác động, ảnh hưởng tới 1 căn nhà hay 1 ngôi mộ vì vậy dựa vào Cửu tinh ta sẽ biết được vận khí tốt, xấu của căn nhà hay ngôi mộ đó theo từng thời gian nhất định. Đây chính là bản chất của trường phái Phong thủy Huyền Không Phi tinh.

1. Sơn, Hướng, và Nguyên Long

1.1 Sơn hướng và nguyên long

Hậu thiên Bát quái của Văn Vương được chia làm 8 hướng đều nhau, với mỗi hướng đi liền với một số của Cửu tinh: hướng BẮC (số 1), ĐÔNG BẮC (số 8), ĐÔNG (số 3), ĐÔNG NAM (số 4), NAM (số 9), TÂY NAM (số 2), TÂY (số 7) , TÂY BẮC (số 6). Riêng số 5 vì nằm ở chính giữa (trung cung) nêm không có phương hướng.

Mỗi cung trong Bát quái lại chia làm 3 cung nhỏ. Trên la bàn sẽ được 24 cung. Người ta lại dùng 12 Địa Chi, 8 Thiên Can (đúng ra là 10, nhưng 2 Can Mậu-Kỷ được quy về trung cung cho Ngũ Hoàng nên chỉ còn 8 Can) và 4 quẻ Càn-Khôn- Cấn-Tốn mà đặt tên cho 24 sơn như sau:

HƯỚNG TINHĐịa nguyên longThiên nguyên longNhân nguyên longsố 1: BẮC: Gồm 3 sơnNHÂM (+)TÝ (-)QUÝ (-)số 2 TÂY NAM: 3 sơnMÙI (-)KHÔN (+)THÂN (+)số 3 ĐÔNG: 3 sơnGIÁP (+)MÃO (-)ẤT (-)số 4 ĐÔNG NAM: 3 sơnTHÌN (-)TỐN (+)TỴ (+)số 5 TRUNG CUNG số 6 TÂY BẮC: 3 sơnTUẤT (-)CÀN (+)HỢI (+)số 7 TÂY: 3 sơnCANH (+)DẬU (-)TÂN (-)số 8 ĐÔNG BẮC: 3 sơnSỬU (-)CẤN (+)DẦN (+)số 9 NAM: 3 sơnBÍNH (+)NGỌ (-)ĐINH (-)

Bảng Tam nguyên Long để xét âm dương cho Hướng

SƠN TINHĐỊA NGUYÊN LONGTHIÊN NGUYÊN LONGNHÂN NGUYÊN LONGSơn dương  (+)GIÁP, CANH, NHÂM, BÍNHCÀN, KHÔN, CẤN, TỐNDẦN, THÂN, TỴ, HỢISơn âm (-)THÌN, TUẤT, SỬU, MÙITÝ, NGỌ, MÃO, DẬUẤT, TÂN, ĐINH, QUÝ

Bảng Tam nguyên Long để xét âm dương cho Sơn

Tất cả 24 sơn trên la bàn đều được xếp theo thứ tự từ trái sang phải theo chiều kim đồng hồ. Chẳng hạn như hướng BẮC có 3 sơn là NHÂM-TÝ-QUÝ, sơn NHÂM chiếm 15 độ phía bên trái, sơn TÝ chiếm 15 độ nơi chính giữa hướng BẮC, còn sơn QUÝ thì chiếm 15 độ phía bên phải. Tất cả các sơn khác cũng đều theo thứ tự như thế.

Mỗi sơn được xác định với số độ chính giữa như: sơn NHÂM tại 345 độ; TÝ 360 độ hay 0 độ; QUÝ 15 độ; SỬU 30 độ; CẤN 45 độ; DẦN 60 độ; GIÁP 75 độ; MÃO 90 độ; ẤT 105 độ; THÌN 120 độ; TỐN 135 đô; TỴ 150 độ; BÍNH 165 độ; NGỌ 180 độ; ĐINH 195 độ; MÙI 210 độ; KHÔN 225 độ; THÂN 240 độ; CANH 255 độ; DẬU 270 độ; TÂN 285 độ; TUẤT 300 độ; CÀN 315 độ; HỢI 330 độ;

Phần trên là tọa độ chính giữa của 24 sơn. Từ tọa độ đó người ta có thể tìm ra phạm vi của mổi sơn chiếm đóng trên la bàn, bằng cách đi ngược sang bên trái, cũng như sang bên phải của tọa độ trung tâm, mỗi bên là 7 độ 5 (vì phạm vi mổi sơn chỉ có 15 độ). Chẳng hạn như hướng MÙI có tọa độ trung tâm là 210 độ. Nếu đi ngược sang bên trái 7 độ 5 (tức là trừ đi 7 độ 5) thì được 202 độ 5. Sau đó từ tọa độ trung tâm là 210 độ lại đi thuận qua phải 7 độ 5 (tức là cộng thêm 7 độ 5) thì được 217 độ 5. Như vậy phạm vi sơn MÙI sẽ bắt đầu từ 202 độ 5 và chấm dứt tại 217 độ 5 trên la bàn.

1.2. Chính Hướng và Kiêm Hướng

Một vấn đề làm cho người mới học Phong thủy khá bối rối là thế nào là Chính Hướng và kiêm Hướng? Thật ra, điều này cũng không khó khăn gì cả, vì khi đo hướng nhà (hay hướng mộ) mà nếu thấy hướng nhà (hay hướng mộ đó) nằm tại tọa độ trung tâm của 1 sơn (bất kể là sơn nào) thì đều được coi là Chính Hướng. Còn nếu không đúng với tọa độ tâm điểm của 1 sơn thì được coi là Kiêm Hướng. Kiêm hướng lại chia ra là kiêm bên phải hoặc kiêm bên trái, rồi kiêm nhiều hay kiêm ít.

Nếu kiêm bên phải hoặc kiêm bên trái thì hướng nhà không được xem là thuần khí nữa, vì đã lấn sang phạm vi của sơn bên cạnh (điều này sẽ nói rõ hơn trong phần Tam nguyên long). Nói kiêm phải hay kiêm trái là lấy tọa độ tâm điểm của mổi sơn làm trung tâm mà tính. Chẳng hạn như sơn MÙI có tọa độ trung tâm là 210 độ. Nếu bây giờ 1 căn nhà có hướng là 215 độ thì nhà đó thuộc hướng MÙI (vì sơn MÙI bắt đầu từ khoảng 202 độ 5 và chấm dứt tại 217 độ 5), nhưng kiêm bên phải 5 độ. Nhưng trong thuật ngữ Phong thủy thì người ta lại không nói kiêm phải hoặc trái, mà lại dùng tên của những hướng được kiêm để gọi nhập chung với hướng của ngôi nhà đó. Như trong trường hợp này là nhà hướng MÙI kiêm phải 5 độ, nhưng vì hướng bên phải của hướng hướng MÙI là hướng KHÔN, nên người ta sẽ nói nhà này “hướng MÙI kiêm KHÔN 5 độ” tức là kiêm sang bên phải 5 độ mà thôi.

Riêng với vấn đề kiêm nhiều hay ít thì 1 hướng nếu chỉ lệch sang bên phải hoặc bên trái khoảng 3 độ so với tọa độ tâm điểm của hướng đó thì được coi là kiêm ít, và vẫn còn giữa được thuần khí của hướng. Còn nếu lệch quá 3 độ so với trung tâm của 1 hướng thì được coi là lệch nhiều, nên khí lúc đó không thuần và coi như bị nhận nhiều tạp khí. Những trường hợp này cần được dùng Thế quái (hay số thế, sẽ nói trong 1 dịp khác) để hy vọng đem được vượng khí tới hướng hầu biến hung thành cát mà thôi.

1.3 Tam nguyên long

Tam nguyên long bao gồm: Địa nguyên long, Thiên nguyên long, và Nhân nguyên long. Mỗi Nguyên bao gồm 8 sơn (hay 8 hướng), trong đó có 4 sơn dương và 4 sơn âm như sau:

THIÊN NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn :

4 sơn dương: CÀN, KHÔN, CẤN, TỐN.

4 sơn âm: TÝ, NGỌ, MÃO, DẬU.

ĐỊA NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn:

4 sơn dương: GIÁP, CANH, NHÂM, BÍNH.

4 sơn âm: THÌN, TUẤT, SỬU, MÙI.

NHÂN NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn:

4 sơn dương: DẦN, THÂN, TỴ, HỢI.

4 sơn âm: ẤT, TÂN, ĐINH, QUÝ.

Với sự phân định âm hay dương của mỗi hướng như trên, người ta có thể biết được lúc nào phi tinh sẽ đi thuận hoặc đi nghịch khi xoay chuyển chúng theo vòng LƯỢNG THIÊN XÍCH.

Ngoài ra, nếu nhìn kỹ vào sự phân chia của Tam nguyên Long ta sẽ thấy trong mổi hướng của Bát quái được chia thành 3 sơn, và bao gồm đủ ba Nguyên: Địa, Thiên và Nhân, theo chiều kim đồng hồ.

Ví dụ: Như hướng BẮC được chia thành 3 sơn là NHÂM-TÝ-QUÝvới NHÂM thuộc Địa nguyên long (trái) Nghịch tửTÝ thuộc Thiên nguyên long (giữa) quẻ Phụ mẫuvà QUÝ thuộc Nhân nguyên long (phải) Thuận tử

Các hướng còn lại cũng đều như thế, nghĩa là Thiên nguyên long ở chính giữa, Địa nguyên long nằm bên phía tay trái, còn Nhân nguyên long thì nằm bên phía tay phải. Từ đó người ta mới phân biệt ra Thiên nguyên long là quẻ Phụ mẫu, Địa nguyên long là Nghịch tử (vì nằm bên tay trái của Thiên nguyên long tức là nghịch chiều xoay chuyển của vạn vật), còn Nhân nguyên long là Thuận tử. Trong 3 nguyên Địa-Thiên-Nhân thì Thiên và Nhân là có thể kiêm được với nhau (vì là giữa phụ mẫu và thuận tử). Còn Địa nguyên long là nghịch tử chỉ có thể đứng 1 mình, không thể kiêm phụ mẫu hay thuận tử. Nếu Địa kiêm Thiên tức là âm dương lẫn lộn (hay âm dương sai thố). Nếu Địa kiêm Nhân thì sẽ bị xuất quái.

Ví dụ: Nhà hướng MÙI 205 độ. Vì hướng MÙI bắt đầu từ 202 độ 5, nên nhà hướng 205 độ cũng vẫn nằm trong hướng MÙI, nhưng kiêm sang phía bên trái 5 độ, tức là kiêm hướng Đinh 5 độ. Vì hướng MÙI là thuộc Địa nguyên long (tức Nghịch tử), chỉ có thể lấy chính hướng (210 độ) chứ không thể kiêm, cho nên trường hợp này là bị phạm xuất quái, chủ tai họa, bần tiện. Ngược lại, nếu 1 căn nhà có hướng là 185 độ, tức là hướng NGỌ kiêm ĐINH 5 độ. Vì NGỌ là quẻ Phụ mẫu, kiêm sang bên phải tức là kiêm Thuận tử nên nhà như thế vẫn tốt chứ không xấu. Đây là 1 trong những yếu tố căn bản và quan trọng của Huyền không Học, cần phải biết và phân biệt rõ ràng. Có như vậy mới biết được tuy 2 nhà cùng 1 trạch vận, nhưng nhà thì làm ăn khá, mọi người sang trọng, có khí phách, còn nhà thì bình thường, con người cũng chỉ nhỏ mọn, tầm thường mà thôi. Cho nên sự quý, tiện của 1 căn nhà phần lớn là do có biết chọn đúng hướng hoặc biết kiêm hướng hay không mà ra. Những điều này sẽ đuoc nói rõ hơn trong phần Lập hướng và Kiêm hướng.

Ví dụ: Như hướng NAM được chia thành 3 sơn là BÍNH – NGỌ – ĐINH.với BÍNH thuộc Địa nguyên long (trái) Nghịch tửNGỌ thuộc Thiên nguyên long (giữa) quẻ Phụ mẫuvà ĐINH thuộc Nhân nguyên long (phải) Thuận tử

1.4 Tam Nguyên, Cửu Vận

Một căn nhà có thể được xây dựng trên 1 mảnh đất có địa thế tốt (hoặc xấu), nhưng không phải vì thế mà nó sẽ tốt (hay xấu) vĩnh viễn, mà tùy theo biến đổi của thời gian sẽ đang từ vượng chuyển sang suy, hay đang từ suy chuyển thành vượng. Đó là lý do giải thích tại sao có nhiều gia đình khi mới vào ở 1 căn nhà thì làm ăn rất khá, nhưng 5, 10 năm sau lại bắt đầu suy thoái dần. Hay có những gia đình sau bao nhiêu năm sống trong 1 căn nhà nghèo khổ, bỗng tới lúc con cái ăn học thành tài, gia đình đột nhiên phát hẳn lên… Cho nên đối với Phong thủy Huyền Không thì không những chỉ là quan sát địa hình, địa vật bên ngoài, cấu trúc, thiết kế bên trong căn nhà, mà còn phải nắm vững từng mấu chốt của thời gian để đoán định từng giai đoạn lên, xuống của 1 trạch vận (nhà ở hay phần mộ). Nhưng thời gian là 1 chuyển biến vô hình, chỉ có đi, không bao giờ trở lại, thế thì lấy gì làm căn mốc để xác định thời gian? Để giải quyết vấn đề này, người xưa đã dùng cách chia thời gian ra thành từng Nguyên, Vận. Nguyên là 1 giai đoạn dài khoảng 60 năm hay 1 Lục thập Hoa Giáp. Mỗi Nguyên lại được chia thành 3 vận, mỗi vận kéo dài khoảng 20 năm. Mặt khác, cổ nhân còn định ra Tam Nguyên là:

Thượng Nguyên: bao gồm 3 vận 1, 2, 3.

Trung Nguyên: bao gồm 3 vận 4, 5, 6.

Hạ Nguyên : bao gồm 3 vận 7, 8, 9.

Như vậy, Tam Nguyên Cửu Vận tức là 3 Nguyên: Thượng, Trung, Hạ, trong đó bao gồm 9 Vận, từ Vận 1 tới Vận 9. Tổng cộng là chu kỳ 180 năm, cứ từ Vận 1 (bắt đầu vào năm GIÁP TÝ) đi hết 3 Nguyên (tức 9 Vận) rồi lại trở về Vận 1 Thượng Nguyên lúc ban đầu. Cứ như thế xoay chuyển không ngừng. Còn sở dĩ người xưa lại dùng chu kỳ 180 năm (tức Tam Nguyên Cửu Vận) làm mốc xoay chuyển của thời gian là vì các hành tinh trong Thái Dương hệ cứ sau 180 năm lại trở về cùng nằm trên 1 đường thẳng. Đó chính là năm khởi đầu cho Vận 1 của Thượng Nguyên. Dùng đó làm mốc để tính thời gian, người ta có thể suy ra Tam Nguyên Cửu Vận gần đây nhất là:

THƯỢNG NGUYÊN:* Vận 1: từ năm 1864- 1883* Vận 2: từ năm 1884- 1903* Vận 3: từ năm 1904- 1923.

TRUNG NGUYÊN :* Vận 4: từ năm 1924- 1943* Vận 5: từ năm 1944- 1963* Vận 6: từ năm 1964- 1983

HẠ NGUYÊN:* Vận 7: từ năm 1984- 200* Vận 8: từ năm 2004- 2023* Vận 9: từ năm 2024- 2043

Như vậy, năm 2043 là năm cuối cùng của vận 9 Hạ Nguyên. Cho nên vào năm 2044 (tức năm GIÁP TÝ) thì lại trở về vận 1 của Thượng Nguyên, cứ như thế xoay chuyển mãi không ngừng. Điều quan trọng cho những ai mới học Huyền Không phi tinh là phải biết rõ năm nào thuộc Vận và Nguyên nào. Chẳng hạn như năm 1980 là thuộc về vận 6 Trung Nguyên, vì nó nằm trong giai đoạn từ năm 1964-1983. Hoặc như năm 1991 là thuộc về vận 7 Hạ Nguyên, vì nó nằm trong giai đoạn từ năm 1984- 2003. Cho nên những nhà cửa hay phần mộ xây trong năm 1991 đều thuộc về vận 7 Hạ Nguyên, hay những nhà xây năm 1980 đều thuộc về vận 6 Trung Nguyên. Có nắm vững được điều này thì mới có thể thiết lập trạch vận cho nhà cửa hay mộ phần được.

2. Phương pháp lập tinh bàn

Muốn lập tinh bàn (hay trạch vận) cho 1 căn nhà (hay 1 ngôi mộ) thì vấn đề trước tiên là phải biết căn nhà hay ngôi mộ đó được xây dựng trong năm nào, tháng nào? Rồi dựa vào bảng Tam Nguyên Cửu Vận gần đây nhất mà xác định nhà đó thuộc vận nào?

2.1 Phương pháp xác định Vận bàn

Thí dụ như 1 căn nhà được xây xong vào tháng 6 năm 1984. Nếu nhìn vào bảng Tam Nguyên Cửu Vận gần đây thì thấy Vận 7 bắt đầu từ 1984 và kết thúc vào cuối năm 2003, cho nên biết nhà đó thuộc vận 7 Hạ Nguyên.

Nhưng vấn đề xác định nhà thuộc vận nào trở nên rắc rối và phức tạp khi 1 căn nhà đã được xây xong khá lâu, sau đó được chủ nhà tu sửa hay xây lại nhiều lần. Hoặc sau khi xây xong thì căn nhà đã được đổi chủ… Đối với những căn nhà trên thì việc xác định căn nhà thuộc vận nào là phụ thuộc vào những yếu tố sau đây:

Nếu sau khi vào ở 1 thời gian rồi chủ nhà hoặc là dỡ mái lợp lại (nếu là nhà trệt), hoặc là tu sửa quá 1/3 diện tích căn nhà, hoặc là đập đi xây mới thì căn nhà sẽ không còn thuộc về vận cũ lúc mới xây nhà hay dọn vào nhà ở nữa, mà sẽ thuộc về vận là lúc gia chủ thực hiện những việc tu sửa trên.

Nếu căn nhà được đổi chủ (vì bán hoặc cho thuê) thì khi lập tinh bàn căn nhà cho chủ mới thì phải dựa vào thời điểm họ dọn vào nhà này ở, chứ không dựa vào thời điểm lúc xây nhà. Nếu 1 căn nhà được đổi chủ nhiều lần, thì khi lập tinh bàn cho người chủ nào thì chỉ dựa vào thời điểm người đó dọn vào căn nhà để ở là thuộc vận nào. Cũng lấy thí dụ căn nhà ở trên, xây xong và dọn vào ở tháng 6 năm 1984 nên căn nhà thuộc vận 7. Nhưng nếu vào năm 2000 người chủ đó bán nhà cho 1 người khác. Khi người này dọn vào ở trong năm đó thì trạch vận căn nhà vẫn thuộc vận 7 (vì vận 7 bắt đầu từ năm 1984 và kết thúc vào cuối năm 2003). Nếu người này ở tới năm 2005 rồi lại bán nhà đi nơi khác, thì khi người chủ mới dọn về nhà này thì trạch vận căn nhà của họ lại thuộc về Vận 8 (vì Vận 8 bắt đầu từ năm 2004 và kết thúc vào cuối năm 2023) Cho nên tùy thời điểm mà gia chủ dọn vào căn nhà là thuộc vận nào mà tính trạch vận cho họ thuộc vận đó.

Đối với những căn nhà vừa tu sửa như trường hợp 1, vừa thay đổi chủ như trường hợp 2 thì trường hợp nào xảy ra gần nhất thì trạch vận của căn nhà sẽ thuộc về Vận đó. Cũng lấy thí dụ căn nhà xây năm 1984 (nhà thuộc vận 7), sau đó bán lại cho 1 người khác vào năm 2000 (nhà vẫn thuộc vận 7). Nhưng đến năm 2004 thì người này tu sửa nhà, nên nhà lúc đó sẽ thuộc về vận 8. Đến khi người đó bán nhà vào năm 2005 thì căn nhà cũng vẫn thuộc vận 8 đối với chủ mới.

Đối với những căn nhà tuy không đổi chủ hay được tu sửa, nhưng nếu chủ nhà đóng cửa đi vắng 1 thời gian từ hơn 1 tháng trở lên, đến khi họ trở về thì căn nhà sẽ thuộc về Vận vào lúc họ trở về, chứ không còn thuộc về Vận cũ nữa. Cũng lấy thí dụ nhà xây năm 1984, người chủ sau khi mua ở đó được hơn 20 năm. Tới năm 2005 người đó có công chuyện phải đi xa hơn 2 tháng mới về. Như vậy khi người này trở về nhà thì lúc đó căn nhà sẽ chuyển sang thuộc về Vận 8, chứ không còn thuộc về Vận 7 nữa.

Đối với những căn nhà được xây hay dọn vào ở trong những năm cuối của 1 vận thì trạch vận của căn nhà thường là thộc về vận mới, chứ cũng không thuộc về vận cũ nữa. Thí dụ như những căn nhà được xây hay được dọn vào ở năm 2003, tức là năm cuối cùng của Vận 7 thì trạch vận của căn nhà sẽ thuộc về Vận 8, chứ không thuộc về Vận 7 nữa.

Riêng với âm phần (mồ mả), thì trạch vận được tính vào lúc ngôi mộ mới được xây, hoặc lúc sau này con cháu cải táng hay tu sửa mộ bia lại. Chẳng hạn như 1 ngôi mộ được dựng lên vào năm 1987 thì thuộc Vận 7, đến năm 2006 thì con cháu xây mộ, thay bia lại thì lúc đó mộ lại thuộc về Vận 8.

Khi đã biết cách xác định nhà (hay mộ) thuộc Vận nào thì mới có thể lập tinh bàn cho căn nhà (hay phần mộ đó).

2.2 – Hướng dẫn an Vận tinh

Trước hết lấy 1 tờ giấy trắng vẽ 1 ô vuông lớn, sau đó chia ô vuông đó ra làm 9 ô nhỏ, với 8 ô chung quanh tiêu biểu cho 8 hướng: BẮC, ĐÔNG BẮC, ĐÔNG, ĐÔNG NAM, NAM, TÂY NAM, TÂY, và TÂY BẮC. Riêng ô giữa được coi là trung cung. Sau đó mới có thể tiến hành việc lập tinh bàn.

Thời gian được chia làm 3 nguyên, gồm: Thượng nguyên, Trung nguyên và Hạ nguyên. Mỗi nguyên lại chia làm 3 Vận. Mỗi Vận là 20 năm

Thượng Nguyên (tổng cộng 60 năm) gồm:

Vận 1: 1864 – 1883 (Giáp Tý – Quý Mùi)

Vận 2: 1884 – 1903 (Giáp Thân – Quý Mão)

Vận3: 1904 – 1923 (Giáp Thìn – Quý Hợi)

Trung nguyên (tổng cộng 60 năm) gồm:

Vận 4: 924 – 1943 (Giáp Quý – Quý Mùi)

Vận 5: 944 – 1963 (Giáp Thân – Quý Mão)

Vận 6: 1964 – 1983 (Giáp Thìn – Quý Hợi)

Hạ nguyên (tổng cộng 60 năm) gồm:

Vận 7: 1984 – 2003 (Giáp Quý – Tý Mùi)

Vận 8: 2004 – 2023 (Giáp Thân – Quý Mão)

Vận 9: 2014- 2043 (Giáp Ngọ– Quý Hợi)

Tổng 3 nguyên là 180 năm. Hết hạ nguyên lại tới thượng nguyên.

Hiện tại chúng ta đang sống trong hạ nguyên;– Vận 7 từ 1984 đến 2003– Vận 8 từ 2004 đến 2023– Vận 9 từ 2024 đến 2063Đến vận của sao nào thì lấy sao đó nhập trung cung, xác định các sao khác theo vòng lường thiên xích thuận

2.3 Cách xác định tọa tinh và hướng tinh bay thuận hay nghịch theo đường Lường thiên xích

Để xác định tọa tinh và hướng tinh bay thuận hay bay nghịch, chúng ta dựa trên 5 quy tắc sau:

Quy tắc 1: Nếu tọa và hướng thuộc sơn thứ nhất (ví dụ: nhà hướng Bính, Mùi, Canh… thuộc sơn thứ nhất) và tọa tinh hoặc hướng tinh là sao 1, 3, 7, 9 thì sao sẽ bay thuận.

Quy tắc 2: Nếu tọa và hướng thuộc sơn thứ nhất (ví dụ: nhà hướng Bính, Mùi, Canh… thuộc sơn thứ nhất) và tọa tinh hoặc hướng tinh là sao 2, 4, 6, 8 thì sao sẽ bay nghịch.

Quy tắc 3: Nếu tọa và hướng thuộc sơn thứ 2 hoặc thứ 3 (ví dụ: nhà hướng Ngọ, Đinh, Khôn , Thân… thuộc sơn thứ 2 và thứ 3) và tọa tinh hoặc hướng tinh là sao 1, 3, 7, 9 thì sao sẽ bay nghịch.

Quy tắc 4: Nếu tọa và hướng thuộc sơn thứ 2 hoặc thứ 3 (ví dụ: nhà hướng Ngọ, Đinh, Khôn , Thân… thuộc sơn thứ 2 và thứ 3) và tọa tinh hoặc hướng tinh là sao 2, 4, 6, 8 thì sao sẽ bay thuận.

Quy tắc 5: Trường hợp tọa tinh hay hướng tinh là sao số 5 thì

Nếu Sao vận tinh ở trung cung là: 1, 3, 7, 9 và hướng tinh thuộc sơn thứ nhất sẽ bay thuận, hướng tinh ở sơn thứ 2 và thứ 3 sẽ bay nghich.

Nếu Sao vận tinh ở trung cung là: 2, 4, 6, 8 và hướng tinh thuộc sơn thứ nhất sẽ bay nghịch, hướng tinh ở sơn thứ 2 và thứ 3 sẽ bay thuận.

Thí dụ: Nay ta đang ở vận 8. Lấy số 8 nhập trung cung bay thuận ta được vận bàn như hình sau:

2.4 – Hướng dẫn an Hướng tinh vào tinh bàn: 

Sau khi có Vận bàn ta lấy số ở Hướng nhà cho nhập trung cung, rồi cho bay thuận hay nghịch theo quy tắc ở trên.

Ví dụ: Nhà tọa Càn, hướng Tốn (Hướng Tốn thuộc Đông Nam). Như hình Tinh bàn vận 8 ở trên. Hướng nhà có sao số 7. Ta lấy 7 nhập trung cung, ta cho 7 bay nghịch (thường thì hướng tinh đặt bên phải của vận tinh) ta được hình bên dưới.

2.5 Hướng dẫn an Sơn tinh vào tinh bàn

 “Sơn” chỉ khu vực sau nhà , tức phương toạ. Lấy số của Vận bàn tại phương toạ đem nhập trung cung, để ở góc bên trái. Xem Phương toạ là sơn gì? Thuộc tam nguyên long nào? âm hay dương?

Thí dụ: Vẫn lấy nhà ở trên lập tinh bàn cho vận 8, Nhà toạ Càn, có vận tinh tại Càn là 9. Ta lấy 9 nhập trung cung, ta cho 9 bay nghịch (thường thì Sơn tinh đặt bên trái của vận tinh) ta được tinh bàn như hình bên dưới.

Tóm tắt:

Lấy số của vận bàn tại toạ hoặc hướng nhập trung cung.

Nếu là Thiên hoặc Nhân nguyên long: Số chẵn bay thuận, số lẻ bay nghịch.

Nếu là Địa nguyên long: Số chẵn bay nghịch, số lẻ bay thuận

Sau khi đã có sơ đồ phi tinh, tiến hành luận đoán tốt xấu để có phương án bài trí cho phù hợp. Hai cung quan trọng nhất đó là Toạ và Hướng, bởi Hướng là nơi nạp Thiên khí vào nhà chủ quản hoạ phúc. Toạ là nơi nạp Địa khí chủ về nhân đinh, hậu vận.

3. Thế nào là Vượng tinh, Suy tinh

Thế nào là vượng và thế nào là suy?

Vượng là khi được đắc cách (dĩ nhiên phải là sao vượng, sinh hoặc tiến khí trong vận đó) như Sơn vượng thì có núi cao. Nhà cao, cây cao….Hoặc Hướng vượng thì có thủy, trống thoáng hoặc có đường đi.

Suy là khi bị thất cách. Như sao Sơn vượng, Sinh hoặc tiến khí mà lại gặp thủy. Hay sao hướng Vượng, Sinh hoặc tiến khí lại gặp sơn . Sao Sơn là Tử khí mà lại gặp núi hoặc sao Hướng là Tử khí mà lại gặp thủy

SINH VƯỢNG VÀ TIẾN KHÍ:

Khái niệm về Khí:

Người Trung Hoa cổ đại cho rằng khí là nguồn năng lượng được cung cấp cho con người. Các danh sư phong thủy dùng địa hình để nhận biết khí, do không thể nhìn thấy khí, không chạm được, nên họ phải dùng phong thủy làm công cụ tiếp xúc với khí, tìm khí, đem khí phục vụ cho con người. Con người nếu tập luyện thường xuyên, khi vận khí tạo ra một sức mạnh (năng lượng) đáng kể.

Trong Huyền Không Phi Tinh, mỗi vận đều có một sao luân phiên làm chúa tể gọi là sao “Đương Lệnh” (Vượng Tinh), sao này mang đến Vượng Khí. Những sao trong tương lai sẽ “nằm lệnh” gọi là sao Sinh Khí và Tiến Khí.

Ví dụ: Vận 8 thì sao Bát Bạch Thổ là sao nắm lệnh là Vượng Khí, sao 9 là Sinh Khí và sao 1 là Tiến Khí.

Vượng khí là khí tốt, nó mang lại vận hội tốt đẹp cho con người do đó cần phải khai thác triệt để.

THOÁI KHÍ, SUY KHÍ VÀ TỬ KHÍ:

Thoái khí: Là sao vừa mới hết nắm lệnh.

Suy khí: là sao hết nắm lệnh một thời gian.

Tủ khí: Là những sao đã qua thời kỳ nắm lệnh từ rất lâu.

Ví dụ: Trong vận 8 thì:

Sao 7 là sao thoái khí

Sao 6 là sao suy khí

Các sao 5, 4, 3 và 2 là những sao tử khí

Các sao Suy, Tử mang những khí xấu đến làm ảnh hưởng đến con người, chúng dễ gây ra tai họa, bệnh tật, do đó cần phải hóa giải hoặc tránh né chúng. Đặc biệt các sao 5, 2, 7 (các sao xấu) khi là Suy khí, Tử Khí sẽ gây ra những tai họa khó lường, lúc nào cũng cần đề phòng.

cXÁC ĐỊNH KHU VỰC CÓ SINH VƯỢNG KHÍ VÀ SUY TỬ KHÍ

Tùy vào thời gian nhập trạch mà ta biết được Trạch Bàn ở Vận nào, rồi sau đó biết được sao đương lệnh và suy ra các sao sinh, vượng khí hay suy tử khí.

Ví dụ: Nhà nhập trạch vào năm 2007, thuộc vận 8 (2004 – 2023) do đó:

Sao 8 (Bát Bạch) là vượng khí

Sao 7 là thoái khíSao 9 là Sinh khí

Sao 6 là suy khí

Sao 1 là Tiến Khí

Sao 5, 4, 3, 2 là Tử khí

ĐẶC ĐIỂM CỦA SINH VƯỢNG VÀ SUY TỬ KHÍ

Huyền Không Học đặc biệt coi trọng sự VƯỢNG, SUY của Khí, đôi khi áp dụng Ngũ hành chỉ là thứ yếu.

Sinh, Vượng tinh ở Sơn, cần có “Sơn” để vượng đinh: cần núi, nhà cao…

Sinh vượng tinh ở Hướng, cần có “Thủy” để vượng tài: cần sông, đường…

Sơn tinh Suy Tử nếu gặp “Sơn” là rất xấu về nhân đinh như: hiếm muộn, khó có vợ chồng, chia ly… Cần khu vực rộng, thoáng.

Hướng tinh Suy Tử nếu gặp “Thủy” là suy bại tài lộc như: phá sản, nghèo khó… Cần có núi đồi, nhà cao…

Khu vực có hướng tinh và sơn sinh suy tử thì không nên bố trí “Sơn” hoặc “Thủy”, cần bằng phẳng, trống, thoáng, yên tĩnh để tránh tai họa.

Khu vực có hướng tinh và sơn tinh đều vượng thì cần có “Thủy” gần còn “Sơn” xa, sẽ đắc cách cả hai nên phát triển cả nhân đinh và tài lộc.

Còn nếu như ngược lại sẽ có “Sơn” gần và “Thủy” xa là phạm cách “Ngoại Sơn Hữu Thủy”, sẽ suy bại cả nhân đinh và tài lộc.

Lấy ví dụ: Nhà trong vận 8

Nhà trong vận 8, ở Vị trí chính Bắc có hướng tính là số 2 thuộc tử khí. Nhưng ở hướng Bắc lại có ao, hồ, sông lớn. Trường hợp này Hướng tinh số 2 đắc Thuỷ của ao, hồ tắm lớn. Đây là trường hợp Tử khí đắc cách, nên trong nhà này vừa bị hao tài, vừa bị bệnh tật liên miên, lại còn xuất hiện quả phụ. Cho nên đàn ông trong nhà đó dễ bị vắn số.

Nếu nơi đó lại có sơn tinh 3, tạo thành thế “ĐẤU NGƯU SÁT”, nên gia đình sẽ bị mắc khẩu thiệt, quan tụng liên miên. Hoặc nếu nơi đó có sơn tinh hay vận tinh 7, kết hợp với hướng tinh 2 tạo thành cặp 2-7 Hoả tiên thiên thì nhà này dễ bị xung đột hoặc trong nhà có người mắc bệnh đau tim.

Vào những năm có niên tinh 9, 7, 2 chiếu tới khu vực này thì bệnh tim càng nặng, có thể chết người. Nếu khu vực này mà lại nằm tại phía ĐÔNG hoặc ĐÔNG NAM thì vào những năm có niên tinh 4, 3 chiếu tới thì còn gặp hoả hoạn mà sản nghiệp tiêu tan nữa.

Cho nên nếu khí suy tử mà đắc cách thì ngoài vấn đề phá tài, tổn đinh thì còn bị những tai hoạ, bệnh tật khác nữa, chứ không phải chỉ là làm ăn lụn bại (trường hợp Hướng tinh “Thượng Sơn”) hoặc nhân số giảm thiểu (trường hợp Sơn tinh “Hạ thuỷ”) như các trường hợp vượng tinh thất cách, tức là mức độ tai hoạ còn nguy hiểm và trầm trọng hơn.

Vấn đề khảo sát các sao Vận-Sơn-Hướng (nhất là Sơn và Hướng) thì trước hết cần phải xét đến thời vận, xem chúng là sinh, vượng hay suy, tử. Sau đó mới xét tới hình thế Loan đầu xem chúng có đắc cách hay không? Như Sơn tinh vượng cần gặp núi hay nhà cao, Hướng tinh vượng cần có thuỷ hoặc cửa ra vào… Nếu chúng được như vậy thì dù ngũ hành có bị xung khắc cũng vẫn không có tai hoạ gì cả. Chỉ khi chúng đều là khí suy, tử, hoặc không đắc cách thì mới xét đến ngũ hành sinh, khắc để đoán biết hung hoạ mà thôi.

Lấy thí dụ:

Cung KHẢM có các sao: 7-8-3 (theo thứ tự Sơn-Vận-Hướng). Nếu là trong vận 7, sơn tinh 7 là vượng khí, nên nếu khu vực này có nhà cao thì chủ vượng nhân đinh, lại hoá sát của Hướng tinh số 3, chứ không có vấn đề khắc chế gì cả. Nhưng qua vận 8, sơn tinh 7 biến thành suy khí, khắc chế Hướng tinh 3, nên nhà này dễ bị trộm cướp hay tai hoạ hình thương, hay có bệnh về thần kinh…

Chỉ có khi xét tới niên, nguyệt, nhật thời tinh thì mới dùng đến nguyên lý ngũ hành sinh, khắc làm chủ yếu. Còn giữa vận-sơn-hướng khi xét đến sự sinh, khắc thì chủ yếu là giữa Hướng tinh và Sơn tinh, còn vận tinh chỉ có thể phụ hoạ thêm vào cái sinh hoặc khắc giữa 2 sao đó mà thôi

4. Ý nghĩa các cặp Sơn, Hướng

4.1 Nhất Bạch 

1-1: là Tỵ hòa

nếu Vượng ứng với quan tinh, chủ văn chương, thông minh, văn tài xuất chúng.

Nếu Suy ứng với bệnh về máu, thận suy, nghiện ngập, dâm đãng, xảy thai, bất đắc chí.

1-2: là Nhập khắc.  

Nếu Vượng thì mẫu thân dễ mắc bệnh về tỳ vị hoặc đường ruột .

Nếu Suy thì chồng bị vợ nhục mạ hoặc lấn quyền, người nhà dễ mắc các chứng bệnh về thận hoặc tiết niệu.

1-3: là sinh xuất.

Nếu Vượng thì con trưởng được danh giá quyền quý, có lợi cho người thuộc mệnh Tam mộc, nhân đinh tài bạch đều phát lớn .

Nếu Suy thì con cháu dòng trưởng suy bại, bị kiện cáo tù tội hoặc trộm cướp, người nhà dễ mắc các chứng bệnh về gan,chân, hoặc bị ép phải dời đi nơi khác ở.

1-4: là sinh xuất.

Nếu Vượng thì xuất người nổi tiếng trong khoa cử, quan vận hanh thông thuận lợi, ra ngoài gặp nhiều điều hay về văn nghiệp, tên tuổi nổi bật .

Nếu Suy thì cũng đỗ đạt nhưng quý mà không phú, hoặc vì mang tiến tài hoa mà chìm đắm trong chống nữ sắc sinh ra quan hệ nam nữ bất chính . Nếu hình thế loan đầu bên ngoài có vật thuộc hành thổ thì đường văn chương hư bại, không con nối dõi, hoặc con cái chết yểu.

1-5: là khắc nhập.

Nếu Vượng thì được cả tài bạch lẫn sang quý (tức có địa vị chức tước).

Nếu Suy thì nữ nhân trong nhà dễ mắc các chứng bệnh về đường sinh dục; nặng thì thận suy kiệt, ngộ độc thức ăn, con thứ chết yểu.

1-6:  là sinh nhập.

Nếu Vượng thì từ nhỏ đã được hưởng giàu sang, ngoài ra, nếu sơn Kiền mà đắc thủy (có sông nước) thì sự nghiệp văng chương có thể phát đên tám đời .

Nếu Suy thì thủy kim chủ về lạnh, dễ mắc các chứng bệnh về đầu, xương hoặc bị thương tật vì kim loại.

1-7: là sinh nhập.

Nếu Vượng thì đào hoa, dễ tạo của cải .

Nếu Suy thì kim thủy đa tình, đam mê tửu sắc, hoặc vì tửu sắc mà bị kiện tụng thị phi, có khi vì tranh chấp mà sinh ra thù hằn gây gỗ đến nổi phải mang thương tật.

1-8: là khắc nhập.

Nếu Vượng thì trẻ con trong nhà có họa chết đuối, xuất hiện người có tài về viết lách .

Nếu Suy thì vợ mắc chứng vô sinh, có bệnh về tai, thiếu máu, hoặc có con chết non.

1-9: là khắc xuất.

Nếu Vượng thì thủy hóa đều có đủ, lợi lớn về tiền tài, nhân khẩu cũng thịnh vượng .

Nếu Suy thì dễ mắc các chứng bệnh về tim, vợ chồng bất hòa, anh em tranh chấp.

4.2 Nhị Hắc

2-1: là khắc xuất.

Nếu Vượng thì giàu có về điền sản, gia cảnh hưng vượng, nhân khẩu đông, mẫu thân khỏe mạnh sống lâu.

Nếu Suy thì vợ khắc chồng, đàn ông mất ở tuổi trung niên, quả phụ làm chủ gia đình, người nhà thường mắc cách chứng bệnh về tỳ vị, đường ruột hay thận.

2-2: là tỵ hòa.

Nếu Vượng thì giàu có, ruộng đất nhiều, có quyền thế, lợi về binh nghiệp.

Nếu Suy thì ham mê nữ sắc, dâm đãng, khí lực suy yếu, mẹ già nhiều bệnh tật, người trong nhà thường xảy ra nhiều chuyện xấu, ra ngoài dễ gặp tiểu nhân ngầm hại.

2-3: là khắc nhập.

Nếu Vượng thì vợ ngắm quyền, gia tài tích lũy do làm việc bất chính, nhưng con trưởng chẳng ra gì.

Nếu Suy thì đàn ông vì dâm đãng mà gia đình tan nát, đàn bà dễ mắc các chứng về đường tiêu hóa . Nhị Tam sóng đôi còn gọi là “đâu ngưu sát” nên vợ chồng thường bất hòa, chống đối nhau. Người trong nhà chỉ ham an chơi nên ruộng vường bỏ hoang, con cháu dễ thành trộm vặt.

2-4: Nhị gặp Tứ là khắc nhập.

Nếu Vượng thì con dâu nắm quyền, gia đình hưng vượng, nhiều nhân đinh.

Nếu Suy thì chọ dâu ức hiếp em chồng, nam giới hiếu sắc. Có mẹ già cô khổ, hoặc xuất gia làm ni. Người trong nhà dễ mắc các chứng bệnh về tỳ vị, đường ruột, đau cách tay. Gia cảnh buồn tẻ vắng lặng, ra ngoài thường gặp những việc tai tiếng quấn vào thân, hoặc mắc bệnh thương hàn.

2-5: là tỵ hòa.

Nếu Vượng thì tạo dựng cơ nghiệp dễ dàng, tài vận tốt, hưng thịnh nhất là về địa sản.

Nếu Suy thì phát sinh đủ thứ bệnh, vợ đau yếu nặng, dễ thành người góa vợ . Đặc biệt người nhà thường mắc các chứng về tỳ vị, đường ruột mãn tính.

2-6: là sinh xuất.

Nếu Vượng thì gia cảnh bình yên, con cái thuận hòa, gia nghiệp hưng thịnh, nhiều khả năng hành nghề y cứu đời, hoặc trở thành người có quyền trong nghiệp võ.

Nếu Suy thì cha già lắm bệnh, trong nhà có người đi tu, cha con thù oán nhau, chủ khách tranh chấp, thường gặp việc tai tiếng thị phi, người nhà thường mắc bệnh đau dầu hay điên loạn.

2-7: là sinh xuất.

Nếu Vượng thì trở thành cự phú bằng tiền của bất chính hoặc bất ngờ (hoạnh tài), nhiều con cái.

Nếu Suy thì mẹ và con gái thường nghịch nhau, vợ kế không hiền thục . Ngoài ra dễ có hỏa tai hoặc bị chứng bạch đới cấp tính, kiết lỵ; đàn ông thường hay bị phụ nữ quấy rầy hoặc vì tranh chấp thị phi mà bị đâm chém.

2-8: là tỵ hòa.

Nếu Vượng thì giàu có, ruộng đất không thấy bờ.

Nếu Suy thì hay mắc bệnh nhẹ, đàn bà thường bỏ nhà đi tu

2-9: là sinh nhập.

Nếu Vượng thì văn chương chử nghĩa bề bề, đất đai tiền của tích tụ lớn.

Nếu Suy thì việc đen tối ập đến ngay, chủ về chuyện nam nữ ám muội, tiền của ra đi nhanh chóng, vả lại còn xuất hiện người chồng ngu đân . Hóa nóng thổ (đất) khô nên dễ sinh ra chứng bạch đới cấp tính . Khi âm quá nhiều nên nhiều đời có quả phụ . Thổ tổn thương mắt, con cháu ắt có người mù lòa

4.3 Tam Bích

3-1: là sinh nhập.

Nếu Vượng thì con trưởng được quyền quý, đinh tài đều đại phát, thi cử đổ đạt.

Nếu Suy thì con cháu ngành trưởng lụn bại, tính khí ngỗ ngáo, có thể dẩn tới họa quan tụng; hoặc vì bấtt hòa với xóm giềng mà phải dọn nhà đi xa. Việc làm phần lớn không thuận lợi, hơn nữa còn dễ bị thương tật ở tai chân.

3-2: là khắc xuất.

Nếu Vượng thì được giàu có về nhà cửa ruộng vườn, con trưởng tài đinh đại phát.

Nếu Suy thì dễ có sát khí chống đối nhau. Gia đạo bất hòa, vợ chồng không êm ấm. Thường vì tranh chấp với cấp trên mà gặp điều tai tiếng . Dễ mắc chứng đau dạ dày, khó tiêu hóa, hoặc vì đánh nhau mà chân bị thương tật; nói chung là gia đình gặp nhiều vất vả, trở ngại mà vẫn thất bại tan vỡ.

3-3: là tỵ hòa.

Nếu Vượng thì thanh danh hiển hách, hưng gia lập nghiệp, tiền của tương đối khá giả.

Nếu Suy thì trong nhà sinh ra trộm cướp hoặc bị trộm cướp, dễ bị thương tật ở chân tay, hoặc vì đánh nhau với người mà bị tù tội.

3-4: là tỵ hòa.

Nếu Vượng thì Tam và Tứ là chính phối, sinh nhiều quý tử, sự nghiệp và tài vận phát triển hanh thông.

Nếu Suy thì trong nhà sinh ra trộm cắp hoặc ăn xin, thường mắc chứng dị ứng hoặc bị thương ở tay chân, đau gan, đau mật. Nếu gặp Thái Tuế e rằng kiếp nạn vì tình hoặc bị rắn cắn.

3-5: là khắc xuất.

Nếu Vượng thì tiền tài khá giả và quyền quý, có thể làm quan to.

Nếu Suy thì dễ bị các chứng độc như bọ cạp, rắn, rết cắn; tâm tư uất kết dễ mắc bệnh gan, hoặc thương tật ở chân.

3-6: là khắc nhập.

Nếu Vượng thì quan trường lao đao vất vả nhưng sự nghiệp ắt thành, trở thành người phụ tá đắc lực cho cấp trên.

Nếu Suy thì bị quan tụng hoặc tai họa binh đao, dễ bị thương tật ở chân tay do kim loại gây nên; đôi khi mắc bệnh gan, gia đạo thường xảy ra tranh chấp.

3-7: là khắc nhập.

Nếu vượng thì nguồn tiền của tăng tiến, có chức quyền ca/ văn lẫn võ.

Nếu suy thì nó là “Xuyên Tâm Sát”, thường mắc các chứng bệnh ở tay chân, gan mật; hoặc bị quan tụng thị phi. Nếu phương Đoài bị khắc phá thì gan bị thương tổn hoặc mắc chứng thổ huyết. Trong nhà có kẻ đam mê tửu sắc, bị trộm cướp trèo tường khoét vách phá hoại danh tiết con gái trong gia đình, chốn phòng the không hòa thuận, các tai họa thường là con trưởng chịu.

3-8: là khắc xuất.

Nếu vượng thì xuất hiện văn tài bậc nhất, lại phát cả tài lẩn đinh.

Nếu suy thì con thứ gặp nhiều tai họa, dễ bị thương gân cốt hoặc bị chó cắn. Anh em trong nhà bất hòa hoặc vì tranh giành gia sản mà gây ra kiện tụng.

3-9: là sinh xuất.

Nếu vượng thì phát như sấm dậy, con cháu thông minh, văng tài hiếm thấy, hưởng giàu sang được nhiều năm.

Nếu suy thì tai tiếng thị phi chồng chất liên tiếp, thường mắc các chứng đau mắt, đau dầu; ngoài ra con dễ gặp hỏa hoạn.

4.4 Tứ Lục

4-1: là sinh nhập.

Nếu vượng thì một đời danh giá, đại lợi về văn tài, học hành thì cử đổ đạt. Con cái thông minh, thành tích thường đứng đầu, nghề nghiệp vừa ý, tài vận thuận lợi.

Nếu suy thì dễ mắc bệnh trúng phong, hoặc vì dâm đãng tửu sắc mà hư bại, gây ra tiếng xấu bên ngoài . Hoặc vợ vô sinh, có con thì cũng chết yểu.

4-2: là khắc xuất.

Nếu vượng thì tương đối giàu sang, vợ nắm quyền trong nhà, con cái đông.

Nếu suy thì vợ ngỗ nghịch khắc mẹ chồng và ức hiếp em chồng. Không khí gia đình nặng nề, không vui; người nhà thường hoảng loạn, dễ mắc chứng đau dạ dày; bị chó dại cắn . Mẹ chồng nàng dâu, chị dâu em chồng thường hay xích mích, mẹ già gặp tai ương. Sự nghiệp suy bại, gia phong càng lúc càng xấu đi, hoặc có người xuất gia làm ni.

4-3: là tỵ hòa.

Nếu vượng thì âm dương phối hợp đúng phép, gia đạo êm ấm, con cái thuận hòa, sự nghiệp thuận lợi, tương đối giàu sang.

Nếu suy thì vợ chồng hay cải vả xích mích, người nhà thường có ý làm tăng ni, xuất hiện kẻ sống lang thang chẳng ra gì. Thường mang bệnh dị ứng hoặc có tật ở tay chân

4-4: là tỵ hòa.

Nếu vượng thì hai sao Văn Khúc cùng đến, con cháu thành tích nổi bật, có tinh mừng về thi cử. Đại lợi về tài văn chương, làm quan văn khá nổi tiếng.

Nếu suy thì phiêu bạn khắp nơi, hoặc trở thành tăng ni. Đàn ông xa nhà bôn ba, sống nơi chân trời gốc bể. Người nhà dễ bị bệnh phong; quả phụ làm chủ gia đình.

4-5: là khắc xuất.

Nếu vượng thì có tài văn chương, giàu có, sự nghiệp thuận lợi.

Nếu suy thì ham ăn ham uống, ruộng vườn bỏ hoang, cảnh nhà ảm đạm, buồn tẻ; nữ chủ nhân thường hay đau ốm, có ý hướng xuất gia, khó sinh và khó nuôi con cái, gia đạo lụn bại.

4-6: là khắc nhập.

Nếu vượng thì quan binh không dám đụng đến, được mọi người đối đãi tử tế, gia đạo êm ấm, tài lộc có đủ.

Nếu suy thì cha chồng ngược đãi con dâu, dễ khiến con dâu phải bỏ nhà ra đi. Người trong nhà thường tranh chấp nhau; dễ mắc bệnh gan, mật và thương tật ở tay. Tứ Lục sóng đôi là tượng “Dịch Mã”, nên người nhà dễ phảI tha hương, rày đây mai đó; nặng thì có thể bị đày.

4-7: là khắc nhập.

Nếu vượng thì vợ nắm quyền hành, táo bạo hơn người nhưng tích lũy được nhiều tiên của.

Nếu suy thì nam nữ đa dâm, con cháu học hành chẳng ra gì; dễ bị bệnh thổ huyết mà chết yểu. Ra ngoài thị gặp nhiều thị phi; mẹ chồng nàng dâu bất hòa . Dễ phạm kiếp sát đào hoa

4-8: là khắc xuất.

Nếu vượng thì vợ hiền dạy con thảo, của cải chất thành núi.

Nếu suy thì người nhà có người ở trong rừng núi sâu làm ẩn sĩ, hoặc vào chùa làm sư. Con cháu nhiều bệnh tật, học hành không giỏi giang; dễ mắc bệnh viêm mũi, bệnh phong hoặc bị rắn hay chó cắn.

4-9: là sinh xuất.

Nếu vượng thì hợp với kim Tiên Thiên, được tài lẫn quý, xuất hiện kẻ sĩ văn chương nổi tiếng.

Nếu suy thì thường bị đau mắt hoặc bị hỏa tai. Đàn ông dễ rơi vào cảnh ngộ vi gian dâm mà gia sản lụn bại.

4.5 Ngũ Hoàng

5-1: là khắc xuất.

Nếu vượng thì tài đinh đại phát, nhưng con giữa không phát.

Nếu suy thì con giửa lại chịu tai ương hoặc đau ốm nặng, đặc biệt là bệnh về đường tiết niệu, bệnh phụ khoa. Ngoài ra còn thường bị các bệnh về tai, hắc lào . Người nhà bệnh hoạn luôn.

5-2: là tỵ hòa.

Nếu vượng thì thì tài đinh đại phát, người mẹ nắm quyền trong nhà.

Nếu suy thì phát đủ thứ bệnh, nhất là cha mẹ. Chủ yếu là bệnh về dạ dày và đường ruột . Gặp lúc sao Thái Tuế tới thì cha bệnh nặng, mẹ dễ thành quả phụ.

5-3: là khắc nhập.

Nếu vượng thì tài đinh đại phát, con trưởng được thừa hưởng phúc lộc.

Nếu suy thì thường mắc các chứng bệnh về gan, tụy, mụn nhọt, ghẻ lở ở chân tay hoặc chổ kín. Con trai phản nghịch, trong nhà có người bị thương tật ở chân, gia đạo không yên ấm.

5-4: là khắc nhập.

Nếu vượng thì có tài vănt hơ và giàu có, sự nghiệp thuận lợi.

Nếu suy thì con trai lêu lỏng ăn chơi, ruộng vườn bỏ hoang; phụ nhân có nhọ độc ở vú, phái nam thường bị sởi. Nhà cửa ảm đạm buồn tẻ, con dâu có ý xuất gia làm ni, gia phong suy bại.

5-5: là là tỵ hòa.

Nếu vượng thì đinh tài đều vượng, gia nghiệp phồn thịnh.

Nếu suy thì khó thoát hung sát hoành hành, dễ bị chứng bạch đới cấp tính. Nhẹ thì bị nhọt độc, nặng thì hao người.

5-6: là sinh xuất.

Nếu vượng thì tiền tài tương đối khá giả, con cái hiếu thuận, nhưng chủ nhân không hưởng được.

Nếu suy thì chủ nhân mang bệnh, nhẹ thì đau đầu, đau xương, nặng thì thập tử nhất sinh, ra ngoài dễ bị thương tổn. Hoạn lộ gặp nhiều khó khăn, thậm chí có thể bị tổn thất.

5-7: là sinh xuất.

Nếu vượng thì giàu có sung túc, gia nghiệp hưng vượng.

Nếu suy thì tranh chấp thị phi, chuyện rắc rối xảy ra thường xuyên, hoặc vì tửu sắc mà phá hết gia sản, có khi gây nên tai họa dẫn tới tù tội. Thiếu nữ trong nhà thường đau ốm . Có người bệnh răng, miệng, họng, hoặc bị thương bởi búa rìu.

5-8: là tỵ hòa.

Nếu vượng thì giàu có, ruộng vườn mênh mông, con cái tốt lành gặp nhiều thuận lợi.

Nếu suy thì con trai nhỏ thường đau yếu, trung niên đau mỏi gân cốt. Khí vận của gia đạo suy giảm.

5-9: là sinh nhập.

Nếu vượng thì con cái thông minh, tài vận tốt.

Nếu suy thì sinh con ngu đần, người nhà mắc chứng đau mắt, đau đầu hay trong lòng buồn phiền. Gặp lúc Thái Tuế tới dễ mắc chứng bạch đới cấp tính.

4.6 Lục Bạch

6-1: là sinh xuất.

Nếu vượng thì quan vận thuận lợi, hanh thông, tiền của dồi dào, con cái học hành đỗ đạt.

Nếu suy thì quan lộc tuy không giảm nhưng người nhà thường mắc chứng đau đầu, hoặc gặp tai nạn sông nước.

6-2: là sinh nhập.

Nếu vượng thì phát lớn, giàu có nhiều vàng bạc ngọc quý, cuộc sống bình yên, xuất hiện người hành nghề y cứu đời.

Nếu suy thì tham lam vô độ, bủn xỉn, hoặc xuất gia đi tu, vợ chồng bất hòa chia cách. Người nhà thường mắc các chứng về đầu, xương, dạ dày, đường ruột.

6-3: là khắc xuất.

Nếu vượng thì tài vận và quan vận đều hanh thông, quyền uy hơn người.

Nếu suy thì dễ gặp nạn binh đao, bị thương, cha con bất hòa, có tang tóc.

6-4: là khắc xuất.

Nếu vượng thì giàu có, thành công trên thương trường, nhất là lãnh vực buôn báng đường xa, hoặc được làm quan võ.

Nếu suy thì khắc vợ hoặc bị khổ sai, có khi người vợ không chịu đựng nổi, phải bỏ mà đi. Người nhà thường đau tay, đau đầu hoặc bị tê liệt

6-5: là sinh nhập.

Nếu vượng thì tài vận và quan vận đều tốt, nhưng có tiểu nhân ngầm hại.

Nếu suy thì tiểu nhân chống đối, làm hao tổn tinh thần hoặc mất chức. Chủ nhân nhiều bệnh tật, thường là bệnh đau đầu, tinh thần bất ổn có thể làm điều sai quấy

6-6: là tỵ hòa.

Nếu vượng thì quan vận thuận lợi, hanh thông, quyền chức cao.

Nếu suy thì gặp nhiều rắc rối, khó thoát thân, có khi phải ngầm di chuyển chỗ ở; hoặc bị hung đồ truy đuổi mà phải trốn chạy, của cải tổn thất, dễ bị tai nạn trên đường.

6-7: là tỵ hoà

Nếu vượng thì làm văn quan hay võ chức đều có quyền lớn trong tay, tài lộc thuận lợi.

Nếu suy thì dễ bị thương vì đao kiếm, hoặc vì tranh chấp mà bị tổn thương. Nhà có thể bị trộm cướp, hoặc vì xích mích mà gặp rắc rối . Già trẻ đều không yên, thường mắc bệnh đau đầu, đau miệng, đau họng.

6-8: là sinh nhập.

Nếu vượng thì có văn chức, võ quyền, công danh và bổng lộc đều có, con cháu được thừa hưởng gia nghiệp hưng thịnh.

Nếu suy thì tuy quan lộc không giảm nhưng người nhà phần nhiều mắc bệnh đau đầu, đau xương.

6-9: là khắc nhập.

Nếu vượng thì hỏa chiếu thiên môn nên đinh tài đều vượng, chủ nhân quyền cao chức trọng lại sống thọ. Người nhà xuất hiện võ tướng tài ba.

Nếu suy thì hỏa đốt thiên môn, người nhà sinh con bất hiếu. Con cháu dòng trưởng sa sút, gặp hỏa khắc kim thì dễ bị bệnh thổ huyết . Hỏa thiêu dốt thiên môn nên trong nhà dễ sinh nghịch tử; hỏa thịnh thì dễ gặp tai ương.

4.7 Thất Xích

7-1: là sinh xuất.

Nếu vượng thì võ chức thăng tiến, con cái đào hoa.

Nếu suy thì thủy kim đều lạnh nên con cháu ham mê tửu sắc, tiêu phá tiền của hoặc vong ơn bội nghĩa. Gặp lúc Thái Tuế bay tới thì có điều nọ tiếng kia, hoặc bị cướp, bị bệnh ở bụng dưới, thổ huyết, thương tật, hay bị tù đày mà phá sản

7-2: là sinh nhập.

Nếu vượng thì tài sản ruộng vườn thêm nhiều, thăng quan tiến chức, phụ nhân sang quý. Nếu gặp được số Nhị Thất bát quái Tiên Thiên thì trong nhà luôn có đèn chiếu sáng, hưng vượng nhộn nhịp.

Nếu suy thì dễ gặp hỏa hoạn, phụ nữ trong nhà bất hòa, người nhà dễ bị ngộ độc thức ăn, có bệnh về răng miệng hay kiết lị.

7-3: là khắc xuất.

Nếu vượng thì làm văn thần võ tướng, quyền cao chức trọng, trong nhà xuất hiện người có tài văn thao võ lược, bốn phương kính phục, con cháu giỏi giang hơn người.

Nếu suy thì đối xử thô bạo với mọi người, con cái hống hách lộng hành. Gia đạo bị xuyên tâm sát dễ gặp binh đao, trộm cướp . Trong nhà cãi cọ, kiện cáo lẫn nhau; gia đình bất hòa, con cái ly tán . Người nhà dễ mắc bệnh thổ huyết, bị thương tật hoặc quan tai.

7-4: là khắc xuất.

Nếu vượng thì phụ nhân sang cả quyền thế, quan lộc đều có, đồng thời gặp vận đào hoa.

Nếu suy thì phụ nữ làm chủ nhân, gặp kiếp đào hoa nên nam nữ ham dâm, trong nhà bất hòa, mẹ chồng nàng dâu không hòa thuận. Dễ bị bệnh thổ huyết hoặc chết yếu.

7-5: là sinh nhập.

Nếu vượng thì giàu có, ruộng vườn của cải đại phát.

Nếu suy thì có bệnh ở miệng, ung nhọt. Thường tranh chấp nên dễ bị kiện tụng hoặc gặp rắc rối vì đào hoa.

7-6: là tỵ hòa.

Nếu vượng thì văn võ toàn tài, quan lộc đều có.

Nếu suy thì có tranh chấp ở chốn quan trường, gia đạo bất hòa, dễ bị thương tật vì đao kiếm hoặc tai nạn xe cộ. Dễ bị bệnh tật ở miệng, đau đầu, viêm nhọt.

7-7: là tỵ hòa.

Nếu vượng thì của cải và quyền bính đều được quý nhân phù trợ nhưng kiếm tiền bất nghĩa.

Nếu suy thì dễ gặp trộm cướp hoặc hỏa hoạn; thường hay bị tranh chấp. Trai gái vì ham mê tửu sắc nên dễ bị quan tai.

7-8: là sinh nhập.

Nếu vượng thì thăng quan tiến chức liên tiếp, tài vận hanh thông, trở nên giàu có, gia đình hòa thuận, con cháu khỏe mạnh và phát triển thuận lợi.

Nếu suy thì tiền tài tổn thất, ra đi nhanh chóng. Dễ bị tật ở miệng hoặc con nhỏ lắm bệnh tật.

7-9: là khắc nhập.

Nếu vượng thì hỏa chiếu sảnh đường, gia đạo hưng vượng.

Nếu suy thì dễ gặp hỏa hoạn. Phương vị Thất Cửu nếu có Nhất Bạch bay đến thì dể gặp hỏa tai. Nếu phương vị Thất Cửu là ở hướng mà động thì gặp hỏa hoạn . Thất Cửu ở phương vị sơn gặp Nhị Hắc thì hung sát càn nặng, dù không động cũng gây nên hỏa hoạn . Nếu Loan Đầu bên ngoài có nhiều màu đỏ thì khó tránh khỏi hỏa tai

4.8 Bát Bạch

8-1: là khắc xuất.

Nếu vượng thì đại lợi về văn chương học hành, văn chức thăng tiến, đặc biệt thuận lợi về kinh doanh địa sản.

Nếu suy thì dễ mắc bệnh thiếu máu, bệnh về tai; anh em trong nhà bất hòa, bạn bè phản bội, hoặc phụ nữ không sinh đẻ, trẻ con chết đuối.

8-2: là tỵ hòa.

Nếu vượng thì giàu có nhờ địa sản.

Nếu suy thì dễ mắc bệnh đau dạ dày, đường ruột, hoặc bị chó cắn. Nếu Loan Đầu bên ngoài có dải núi chạy đi thì có thể xa rời quê hương đất tổ, xuất gia làm tăng ni hoặc chết ở đất khách quê người

8-3: là khắc nhập.

Nếu vượng thì địa sản (nhà cửa, ruộng vườn) dồi dào, quyền lực tăng tiến lên đột ngột, nhờ đước số của Tiên Tiên bát quái nên việc hợp tác rất tốt.

Nếu suy thì của cải thất thoát, chức quyền giảm sút. Trong nhà có người bị thương nhẹ ở tay chân hoặc có bệnh gan, dạ dày.

8-4: là khắc nhập.

Nếu vượng thì vợ nắm quyền, giàu có về ruộng vườn và nhà cửa.

Nếu suy thì có tổn thương nhỏ, vợ lấn quyền chồng, gia đạo bất hòa. Ra ngoài dễ gặp tai nạn xe thuyền, hoặc làm ẩn sĩ ở chốn núi rừng.

8-5: là tỵ hòa.

Nếu vượng thì tài lộc phát đạt, vận thế hanh thôn.

Nếu suy thì hao tài tổn sức, dễ bị bệnh nhẹ, vận thế trở ngại. Dễ mắc bệnh đau bao tử, đường ruột, hoặc ngộ độc thức ăn.

8-6: là sinh xuất.

Nếu vượng thì dễ trở thành quan văn, nhiều quyền thế, phú quý và phúc đức tăng cao.

Nếu suy thì thì vẫn giàu sang nhưng cha con bất hòa, dễ mắc bệnh đau đầu, nhức xương.

8-7: là sinh xuất.

Nếu vượng thì văn chức võ quyền đều có, tài lộc sung túc, vợ chồng hòa thuận, con cái an khang.

Nếu suy thì tài sản dễ tiêu tán, vợ chồng mâu thuẩn bất hòa, con cháu tổn thất.

8-8: là tỵ hòa.

Nếu vượng thì có lợi về văng chương, học hành; phát về ruộng vườn, nhà cửa; giàu sang phú quý đều có, sự nghiệp hưng vượng.

Nếu suy thì sự nghiệp suy tàn, của cải thất tán. Thường mắc bệnh nhức xương đau vai.

8-9: là sinh nhập.

Nếu vượng thì tin vui đến dồn dập; giàu có không ai sánh kịp, có địa vị trong triều đình.

Nếu suy thì mắt mũi lắm tật bệnh, bụng nhiệt, đại tiện ra máu, hoặc bị hỏa hoạn.

4.9 Cửu Tử

9-1: là khắc nhập.

Nếu vượng thì trong nhà có nhiều việc vui mừng, âm dương chính phối, thủy hỏa có đủ, vợ sinh nhiều con trai, giàu sang đến đột ngột.

Nếu suy thì con cháu dòng giữa lụn bại, có bệnh ở mắt và tai. Nếu kèm theo Thất Xích bay đến thì e rằng có hỏa tai

9-2: là sinh xuất.

Nếu vượng thì giàu có về ruộng vườn nhà cửa, mẫu thân quản lý gia sản.

Nếu suy thì sinh con đần độn, tran viên bị hỏa hoạn, dạ dày nóng nên đại tiện ra máu, dễ có bệnh đường ruột hoặc bệnh mắt.

9-3: là sinh nhập.

Nếu vượng thì đèn luôn rực sáng sảnh đường, quyền cao chức trọng, uy chất bốn phương, con cháu thông minh đắc chí.

Nếu suy thì e rằng có kiếp nạn vì dâm loạn, có hỏa hoạn. Đàn ông hung ác, bại hoại thanh danh. Người nhà dễ bị bệnh mắc, hoặc bị thương tật ở chân.

9-4: là sinh nhập.

Nếu vượng thì sảnh đường rực sáng, chồng vẻ vang danh tiếng, vợ sang quý đẹp đẽ, con cháu thông minh, tài văn chương nổi bật, có nhiều hoạnh tài, tin mừng đến dồn dập.

Nếu suy thì nam nữ dâm loạn, danh tàn thân bại, sự nghiệp tiêu tan, thường bị bệnh mắt hay lưng eo. Con cháu hoang đàng bừa bãi.

9-5: là sinh xuất.

Nếu vượng thì giàu có về địa sản.

Nếu suy thì sinh con đần độn, con có tổn thương về mắt. Nếu Loan Đầu bên ngoài có ngọn núi trọc vi bị tàn phá thì con cháu thi cử khó đỗ đạt; trong nhà có người bị tật hay mù lòa, hoặc vì sắc dục mà mắc bệnh giang mai, nhọt độc.

9-6: là khắc xuất.

Nếu vượng thì văn chương hiển đạt. Thất Bát Cửu liền nhau là ứng nghiệm tám đời đều đó tài văn chương. Chủ nhân khỏe mạnh sống lâu, gia đạo an khang.

Nếu suy thì lửa thiêu đốt thiên môn, trong nhà sinh ra nghịch tử, hoặc con cháu bỏ nhà ra đi. Hỏa khắc kim (phế thuộc kim) nên dễ bị thổ huyết, hoặc bệnh lao.

9-7: là khắc xuất.

Nếu vượng thì nam nữ thông minh lanh lợi, tiền của hoạnh tài đến tay.

Nếu suy thì nam nữ nghiện ngập; vì ham mê tử sắc hoặc bị hỏa hoạn mà tài sản tiêu tán, nhà có người mắc bệnh lao. Cửu Thất là hỏa của Tiên Thiên và Hậu Thiên bát quái, cho nên chủ về hỏa hoạn và củng là quan tai.

9-8: là sinh xuất.

Nếu vượng thì giàu có về ruộng vườn nhà cửa, văn chức thăng tiến, tinh mừng đến dồn dập.

Nếu suy thì hỏa viêm thổ táo, sinh con ngu đần. Nhà có người bị tật mắt hoặc mắc bệnh đau bao tử

9-9: là tỵ hòa.

Nếu vượng thì tài văn chương hiển hách, nổi tiếng khắp nơi, gia cảnh rực rỡ, đinh tài phát đột ngột.

Nếu suy thì sinh nhiều con gái, nam nữ hiếu sắc. Trong nhà có người bị tật ở mắc hoặc mù lòa . Trong nhà dễ có người bị bệnh bạch đới cấp tính.

Cần chú ý Nhắc lại cần lưu ý thế nào là vượng và thế nào là suy. Thí dụ : vận 8 ở một cung có cặp sơn hướng 8-6 . Nếu có núi, nhà cao, cây cao thì gọI là vượng vì 8 là sơn tinh vượng. Nếu có ao hồ thì gọI là suy vì 6 là hướng tinh tử khí trong vận 8

5. Phương pháp chọn toạ sơn lập hướng

Về tuổi của người sống trong ngôi nhà thì Lý thuyết huyền không không đặt nặng vấn đề. Nếu ngôi nhà được vượng sơn vượng hướng và loan đầu phù hợp thì bất cứ tuổi nào sống trong ngôi nhà đó vẫn tốt như thường. Tuy nhiên việc chọn toạ sơn lập hướng cho một ngôi nhà theo huyền không cần xem xét một cách cẩn thận.

Trước tiên phải tìm hiểu xem phải làm thế nào để xây dựng được một ngôi nhà có trạch vận tốt. Muốn xây được cát trạch thì bước đầu tiên chính là phải lập hướng cho ngôi nhà. Có nghĩa là xác định tọa hướng của ngôi nhà, để cho ngôi nhà được xây hài hòa với với trường khí của trời đất, âm dương cân bằng. Để được Vượng sơn vượng hướng phát huy tác dụng vượng đinh vượng tài. Tương tự, điều này cũng thích hợp với việc chọn đất và xây dựng mồ mả.

Việc lập hướng được thực hiện bằng la bàn, hay nói một cách đơn giản. Đó chính là dùng la bàn để xác định phương vị tọa độ của ngôi nhà. Đó cũng là một trong chức năng cơ bản nhất của la bàn. Lập hướng phân thành lập hướng chính hướng và lập hướng kiêm hướng.

Khi lập hướng cố gắng sử dụng chính hướng chứ không dùng kiêm hướng. Xét từ góc độ học thuyết âm dương của kiêm hướng tương đối phức tạp dễ làm cho trạch vận thay đổi. Chính hướng phải chọn vượng sơn vượng hướng để xác định tọa hướng. Điều này không chỉ xem xét vượng tinh đương vận, mà còn cần xem xét vận tinh sinh khí. Có nghĩa là vượng tinh đương vận trong vận tiếp theo. Vì tuổi thọ của ngôi nhà bình thường đều từ 50 đến 70 năm. 20 năm là 1 vận. Do vậy, khi xây nhà cần phải suy tính đến trạch vận sau mấy năm, mười mấy năm, hoặc sau 20 năm.

Ngoài ra còn một số phương pháp lập hướng hợp lý. Đó là không phải chỉ phù hợp với cách cục tinh bàn tốt. Mà còn phải xem xét đến sự ảnh hưởng của địa hình địa thế và môi trường xung quanh. Đảm bảo rằng tinh bàn luôn phù hợp với môi trường mới là phương án tốt nhất.

6. Các cách sát trong Huyền Không

Những người mới áp dụng Huyền Không nên lưu ý nhiều đến những cách sát, bởi do học thuật hoặc kinh nghiệm còn hạn chế dễ bị bỏ qua những cách sát gây tổn hại âm đức cho mình và cho người.

Nếu đã ứng dụng theo Huyền Không thì trước hết hãy theo Huyền Không từng bước cho chuẩn. Huyền Không đặc biệt chú trọng tới việc vận dụng Lý khí sao cho phù hợp với Hình thế.

Vì vậy Hình – Lý là hai khái niệm bắt buộc không thể thiếu khi vận dụng Huyền Không.

6.1 THÁI TUẾ

Thái Tuế – còn gọi là Tuế tinh, Thái Tuế Địa Bàn, Thanh Long tinh hay Mộc tinh – là một hành tinh lớn có trọng lượng lớn hơn gấp 300 lần so với trọng lượng của Địa cầu, hơn nữa còn có hơn 63 vệ tinh khác quay xung quanh nó.

Do vậy nếu có chấn động (động thổ xây nhà, máy móc chuyển động, ống khói các nhà máy phun ra nhiều) … ở phương có Thái Tuế đến thì sẽ làm cho trường khí dồn về phương đó nhiều hơn nữa.

Kết quả của các chấn động là Cát hay Hung sẽ tùy thuộc vào khí trường (vận khí) ở phương đó Vượng hay Suy. Như vậy Thái Tuế sẽ khuếch đại trường khí, Tốt thì tốt hơn, Xấu thì nặng hơn. Vì vậy sao Thái tuế đặc biệt được chú ý.

Một chu kỳ vòng quanh mặt Trời của Mộc tinh là 12 năm trong khi đó một chu kỳ vòng quanh mặt Trời của Địa cầu là 1 năm, vậy mỗi năm Địa cầu sẽ đi qua giữa mặt Trời và Mộc tinh một lần.

Đó chính là thời điểm Địa cầu đồng thời bị hai lực hấp dẫn của mặt Trời và Mộc tinh tương tác và hệ quả là trường khí của Địa Cầu sẽ bị xáo trộn mãnh liệt. Năm Tý thì Thái Tuế đáo sơn Tý, năm Sửu thì Thái Tuế đáo sơn Sửu… đến năm Hợi thì Thái Tuế đáo sơn Hợi.

Ví dụ: Người sinh năm Dần, có niên canh Thái Tuế là Dần, niên canh xung Thái Tuế là Thân thì không nên động thổ tại hai phương Dần, Thân. Nếu muốn sửa chữa thì phải đảm bảo sao cho trường khí không thể dồn về các phương đó được (ví dụ như xây tường chắn khí …), nhưng tốt nhất là không nên động thổ ở các phương đó vì làm sao đảm bảo được trường khí sẽ không dồn về các phương đó.

Từ lý luận này suy ra thì người được sinh ra ở Địa chi nào nên tránh chọn sơn mang tên Địa chi đó làm hướng nhà (vì hướng nhà là chỗ luôn luôn động và động mạnh nhất trong một căn nhà).

6.2 THÁI TUẾ PHI TINH

Thái Tuế Phi tinh: Cửu cung Phi tinh lưu niên, mỗi năm có 1 tinh tú nhập trung cung, còn lại 8 tinh tú bay đến 8 hướng (ngọai trừ Ngũ Hoàng) đều có thể luân phiên nhau làm Thái Tuế Phi tinh theo từng năm, 9 năm là kết thúc 1 vòng tuần hoàn.

Năm Ngũ Hoàng nhập cung trung thì Thái Tuế Địa bàn và Thái Tuế Phi tinh trùng nhau.Thái Tuế Phi tinh sẽ gây ảnh hưởng mạnh hơn những phi tinh khác trong năm ngoại trừ Ngũ Hoàng.

6.3 NGUYỆT PHI THÁI TUẾ

Ngoài Thái Tuế ra còn có Nguyệt Phi Thái Tuế (Ám kiến sát). Cách tìm Ám Kiến sát như sau: Lập nguyệt tinh bàn tìm xem Nhị Khôn đáo cung nào thì cung đó chính là Ám Kiến sát. Phàm phương Ám Kiến đến, trong tháng đó tránh sửa chữa tu tạo.

6.4 TUẾ PHÁ

Tuế Phá là cung đối diện với Thái Tuế. Thái Tuế xuất hiện sẽ thu hút hết các dương khí, nhiều trường khí và từ lực trong không gian về phương vị của nó như vậy cung đối diện với nó (Tuế Phá) chỉ còn lại toàn là âm khí, hoặc trống rỗng. Như vậy có thể xem như phương vị Tuế Phá sẽ không còn sinh khí.

Không nên xung động (ngủ, làm việc, tu sửa nhà, đi lại…) với phương vị Tuế Phá thậm chí phương vị đó có Sinh – Vượng tinh bay đến.

6.5 NGŨ HOÀNG

Ngoài vận 5 ra, ở các vận khác đều có Ngũ Hoàng đáo Sơn hoặc đáo Hướng. Nếu Ngũ Hoàng là hướng tinh bay thuận thì tạo ra cách cục toàn bàn là hướng tinh Phục ngâm. Nếu Ngũ Hoàng là hướng tinh bay nghịch thì tạo ra cách cục toàn bàn là hướng tinh Phản ngâm.

Ngũ Hoàng (5) nếu là khách tinh lưu niên, các nơi nó đến đều mang hung họa.Ngũ Hoàng (5) đáo cung ắt mang họa tới.Ngũ Hoàng (5) nếu gặp Thái Tuế ắt sinh đại họa.Ngũ Hoàng (5) gặp Tam (3), Thất (7) (Quan sát gặp phải Xuyên tâm sát) nếu không trở thành thổ phỉ thì cũng là trộm cắp hoặc tứ chi thọ thươngNgũ Hoàng (5) gặp Tam (3), Nhị (2) (Quan sát gặp phải Đấu ngưu sát) nếu không phải trong nhà tranh giành của cải thì người mẹ ắt cũng chết đột ngột.Ngũ Hoàng (5) gặp Lục (6), Thất (7) (Quan sát gặp phải Giao kiếm sát) không tranh giành đoạt lợi thì cũng bị kiện cáo.Ngũ Hoàng (5) gặp Nhị (2), Ngũ (5) là ốm đau đến chếtNgũ Hoàng (5) gặp Thất (7), Cửu (9) là mắc bệnh đột ngột.

6.6 TAM SÁT

Tam Sát là một trong những tai họa lớn nhất của năm. Nguyên tắc cơ bản là không được động thổ hoặc quấy rầy phương vị của nó trong suốt cả năm. Tam Sát là tổ hợp của ba Sát: Tuế Sát, Kiếp Sát và Tai Sát.

Tuế Sát gây trở ngại cho các mối quan hệ, ngăn cản bước tiến tới thành công.

Kiếp Sát gây mất mát tiền của.

Tai Sát gây rủi ro, tai nạn.

Phạm Tam Sát có thể khiến cho thanh danh, tiền bạc và các mối quan hệ bị hủy hoại.

Câu quyết đã nói:

Dần, Ngọ, Tuất: Sát Bắc.

Thân, Tý, Thìn: Sát Nam.

Hợi, Mẹo,Mùi: Sát Tây.

Tỵ, Dậu, Sửu: Sát Đông.

Có nghĩa là năm Dần, Ngọ, Tuất tam sát tại hướng Bắc, các năm khác tương tự.

6.7 BÁT SÁT: Lấy tọa sơn (mặt sau nhà) để tính.

Phương vị sát này kiêng kỵ trổ Cửa , đào Giếng, kỵ thấy nước.

Khảm Long, Khôn Thố, Chấn sơn Hầu.

Tốn Kê, Kiền Mã. Đoài Xà đầu.

Cấn Hổ, Ly Trư vi SÁT diệu.

Phạm chi MỘ-TRẠCH nhất tề hưu.

Dịch nghĩa là:

Nhà TỌA KHÔN thì ở phương MẸO (MÃO) là kỵ.

Nhà TỌA CHẤN thì ở phương THÂN là kỵ.

Nhà TỌA TỐN thì ở phương DẬU là kỵ.

Nhà TỌA KIỀN (CÀN) thì ở phương NGỌ là kỵ.

Nhà TỌA ĐOÀI thì ở phương TỊ là kỵ.

Nhà TỌA CẤN thì ở phương DẦN là kỵ.

Nhà TỌA LY thì ở phương HỢI là kỵ.

Và ngược lại cũng vậy.

Nhà TỌA (mặt sau nhà) THÌN, Tuất thì ở phương KHẢM là kỵ.

Nhà TỌA MẸO thì ở phương KHÔN là kỵ.

Nhà TỌA THÂN thì ở phương CHẤN là kỵ.

Nhà TỌA DẬU thì ở phương TỐN là kỵ.

Nhà TỌA NGỌ thì ở phương Càn là kỵ.

Nhà TỌA TỊ thì ở phương ĐOÀI là kỵ.

Nhà TỌA DẦN thì ở phương CẤN là kỵ.

Nhà TỌA HỢI thì ở phương LY là kỵ.

* Chọn ngày khởi công, động thổ: – Phải TUYỆT ĐỐI TRÁNH nhằm ngày phạm phải BÁT SÁT.

CÀN sơn : kỵ ngày Bính ngọ, Nhâm ngọ.

KHẢM sơn : kỵ ngày Mậu Thìn , Mậu Tuất.

CẤN sơn : kỵ ngày Giáp Dần, Bính Dần.

CHẤN sơn: kỵ ngày Canh Thân

TỐN sơn: kỵ ngày Tân Dậu.

LY sơn: kỵ ngày Quý Hợi, Kỷ Hợi.

KHÔN sơn: kỵ ngày Ất mẹo.

ĐOÀI sơn: kỵ ngày Đinh Tị.

Ví dụ: Ta định chọn ngày Tân tỵ động thổ cho nhà có tọa càn hướng Tốn. Nhà tọa càn thì bát sát là Bính ngọ, và Nhâm ngọ.

Ta cho Tân tỵ vào trung cung và an thuận theo vòng lường thiên xích hết 60 hoa giáp, thấy Bính ngọ, hoặc Nhâm ngọ rơi đúng vào cung Càn, thì năm tháng ngày giờ Tân tỵ này phạm không thể dùng.

6.8 HOÀNG TUYỀN: Lấy hướng (mặt trước nhà) để tính.

Nói đến HOÀNG TUYỀN là nói đến 1 phương vị gần như bất khả xâm phạm trong Phong Thủy. Bởi các Hung Phương như THÁI TUẾ , NGŨ HOÀNG SÁT , TAM SÁT thì chỉ theo năm mà di chuyển đi , còn HOÀNG TUYỀN là phương vị cố định. Khi Nhà, Mộ mà xác định hướng nào đó là đã có 1 vài phương hướng không thể phạm. Chữ ” Phạm” ở đây ý nói ở những nơi ấy có thể kiêng kỵ như: Phóng thủy ( thải nước ra ), đường đi, nước chầu lại , lạch nước…vv…thậm chí ngay cả trổ cửa , chọn ngày giờ khởi công cũng phải tránh.

6.8.1 TỨ LỘ HOÀNG TUYỀN

Canh , Đinh KHÔN thượng thị HOÀNG TUYỀN

Ất , Bính tu phòng TỐN thủy tiên

Giáp , Quý hướng trung ưu kiến CẤN

Tân , Nhâm thủy lộ phạ đương KIỀN.

Nghĩa là:

CANH hướng mà thấy ở phương KHÔN có nước nên chảy đến ,chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.

ĐINH hướng mà làm nhà thì nước phương KHÔN nên chảy đi ,chảy đến là phạm HOÀNG TUYỀN.

ẤT hướng thì phương TỐN nước nên chảy đi, chảy lại là phạm HOÀNG TUYỀN.

BÍNH hướng thì nước phương TỐN nên chảy lại, chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.

GIÁP hướng thì nước phương CẤN nên chảy lại , nếu chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.

QUÝ hướng thì nước phương CẤN nên chảy đi, nếu chảy lại là phạm HOÀNG TUYỀN.

TÂN hướng thì nước ở KIỀN ( CÀN ) nên chảy đi , nếu chảy đến là phạm HOÀNG TUYỀN.

NHÂM hướng thì nước ở KIỀN nên chảy đến , chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.

Địa chi gồm:

Nhà hướng Mão Thìn Tị Ngọ HOÀNG TUYỀN ở Tốn;

Nhà hướng Ngọ Mùi Thân Dậu HOÀNG TUYỀN ở Khôn;

Nhà hướng Dậu Tuất hợp Tý HOÀNG TUYỀN ở Kiền;

Nhà hướng Tý Sửu Dần Mão HOÀNG TUYỀN ở Cấn.

6.8.2 BẠCH HỔ HOÀNG TUYỀN: Lấy Hướng Để Tính

Kiền, Giáp, Khảm, Quý, Thân, Thìn sơn

Bạch Hổ chuyển tại Đinh-Mùi gian

Cánh hữu Ly, Nhâm, Dần kiêm Tuất

Hợi sơn lưu thủy chủ ưu phiền.

Chấn, Canh, Hợi, Mùi tứ sơn kỳ

thủy nhược lưu Thân khước bất nghi.

Cánh hữu Đoài, Đinh, Tị kiêm Sửu

phạm trước Ất-Thìn Bạch Hổ khi.

Khôn,Ất nhị cung Sửu mạc phạm

thủy lai tất nam định vô nghì.

Cấn,Bính sầu phùng Ly thượng ,hạ.

Tốn,Tân ngộ Khảm họa nan di.

Thử thị Hoàng Tuyền chuyên Hướng luận

Khai môn-Phóng thủy ắt sầu bi

Giải Nghĩa :

Kiền Giáp Khảm Quý Thân Thìn thì Bạch hổ ở Đinh Mùi

Ly Nhâm Dần Tuất thì Bạch hổ ở Hợi

Chấn Canh Hợi Mùi thì Bạch hổ ở Thân

Đoài Đinh Tị Sửu thì Bạch hổ ở Ất Thìn

Khôn Ất thì Bạch hổ ở Sửu

Cấn Bính thì Bạch hổ ở (ngọ) Ly

Tốn Tân thì Bạch hổ ở (tý) Khảm

6.9 KIẾP SÁT: (Lấy tọa sơn để tính)

Tốn, Mùi, Thân sơn Quý Kiền tàng

Tân, Tuất cư Sửu, Canh mã hương

Chấn, Cấn phùng Đinh, Giáp Kiền Bính

Nhâm hầu kiến thỏ, Bính Tân phương

Khảm Quý phùng xà, Tị Ngọ kê

Đinh Dậu phùng Dần, Khôn Hợi ất

Long Hổ ngộ dương, ất hầu kiếp

Tê ngưu long vị vĩnh bột lập

Giải nghĩa:

Các Sơn Tốn, Mùi, Thân có Kiếp sát tại Quý.

Tân Tuất Sơn Kiếp sát tại Sửu.

Canh Sơn Kiếp sát tại Ngọ.

Chấn, Cấn Sơn Kiếp sát tại Đinh.

Giáp Sơn Kiếp sát tại Bính.

Nhâm Sơn Kiếp sát tại Thân.

Kiền Sơn Kiếp sát tại Mão.

Bính Sơn Kiếp sát tại Tân.

Quý, Tý Sơn Kiếp sát tại Tị.

Tị, Ngọ Sơn Kiếp sát tại Dậu.

Đinh, Dậu Sơn Kiếp sát tại Dần.

Khôn, Hợi Sơn Kiếp sát tại Ất.

Thìn,Dần Sơn Kiếp sát tại Mùi.

Ất Sơn Kiếp sát tại Thân.

Sửu Sơn Kiếp sát Thìn.

7. Hướng dẫn luận giải tinh bàn Huyền không phi tinh

7.1 Lưu ý khi luận giải

8. Mở cửa, mở cổng trong Huyền không phi tinh

8.1 Mở cửa, mở công

Nhà được vượng khí tới hướng thì mở cửa trước ngay cung của hướng đó. Nên nắm trọn trong cung đó, nếu là nhân nguyên long hoặc thiên nguyên long thì có thể lấn qua nhau được. Như cung ngọ thì có thể lấn qua đinh và ngược lại. Nếu là địa nguyên long thì chỉ nằm trọn trong cung này mà thôi. 

Nhà không được vượng khí tới hướng thì mở cửa qua cung có vượng khí. Thí dụ nhà tọa dậu hướng mão vận 8. tử khí tứ lục tới hướng nếu mở cửa tại mão hoặc canh thì tứ lục tới cửa. Nhưng nếu mở cửa tại giáp thì vẫn tốt như thường, vì áp dụng bí quyết thành môn thì vượng tinh 8 tới cửa. Đây là cách làm vượng những nhà mà hướng không đắc vượng khí.

Muốn mở cổng, cửa chính hay cửa phụ đều phải dùng đến bí quyết của thành môn, TUỲ THEO TỪNG VẬN, để xác định vị trí của nó, có như thế mới có thể nhận được vượng khí.

Ví dụ:

Nhà nhập trạch trong vận 7, lấy 7 nhập trung cung xoay thuận thì vận tinh 4 tới phía TÂY NAM. Nếu muốn mở cửa ở phương này thì lại phải lấy 4 nhập trung cung. Nếu chọn phương MÙI làm vị trí cửa thì MÙI tương ứng với quẻ THÌN của 4, tức là quẻ ÂM nên đi nghịch, nên vượng khí Thất xích sẽ đến phía TÂY NAM. Ngược lại, nếu chọn phương KHÔN hoặc THÂN để mở cửa sau thì KHÔN và THÂN sẽ tương ứng với TỐN và TỴ của số 4 tức là thuộc quẻ DƯƠNG nên đi thuận, sao Nhất bạch sẽ đến cửa này thì chỉ bình thường mà thôi. Còn bây giờ đã qua vận 8, tuy nhà không sửa đổi để thay đổi trạch vận, nhưng vẫn lấy vận tinh Bát bạch nhập trung cung xoay thuận thì vận tinh Ngũ Hoàng sẽ đến phía TÂY NAM. Vì Ngũ Hoàng không có phương hướng, nên khi bay đến cung nào thì theo phương hướng của cung đó. Cho nên nếu chọn cửa phương MÙI thì lại lấy Ngũ Hoàng nhập trung cung bay nghịch thì sao Bát bạch sẽ tới cửa sau. Bát bạch là vượng khí của vận này nên tài lộc sẽ phát. Đó chính là dùng bí quyết của thành môn khi chọn phương vị cửa cho từng vận mà không cần cải tạo trạch vận vậy. Còn nếu chọn hướng KHÔN hay THÂN thì Ngũ Hoàng sẽ nhập trung cung bay thuận, sao Nhị Hắc tới cửa sau chủ đem lại bệnh tật mà thôi. Muốn ứng dụng Thành Môn thì cần phải có địa thế bên ngoài (tức Loan đầu) ứng hợp, tức khu vực có Thành Môn phải có sông, biển, hồ tắm hoặc ngã ba, ngã tư… thì mới dùng được, còn nếu không thì ít nhất cũng phải có cổng hay lối vào nhà tại đó. chứ nếu không thì dù có để nước hay mở cửa tại khu vực đó cũng không hữu hiệu lắm. Nhất là vấn đề mở cửa thì nếu cửa trước đã có vượng khí thì cần gì phải mở thêm cửa ngay bên cạnh, vừa mất thẩm mỹ, vừa chẳng được lợi lộc gì thêm. Cho nên không phải nhà nào cũng có thể ứng dụng được Thành Môn.

Còn phương toạ trên lý thuyết cũng có thể kiếm Thành Môn để làm vượng cho nhân đinh, và cách tìm thì cũng tương tự như tìm Thành Môn ở hướng. Chỉ có điều là nơi đó cần có núi, gò dất cao hay nhà cao, cây cao… Tuy nhiên trên thực tế thì ít ai dùng tới cách này. Vì nhà nếu đã “Đáo sơn, đáo hướng” thì phía sau đều đã có vượng tinh của sơn tới, nên chỉ cần có núi hay nhà cao tại khu vực phía sau nhà là cũng đủ vượng đinh rồi. Chưa kể tới cuộc “Thu Sơn, Xuất Sát” nữa, cho nên như thế cũng quá đủ cho cuộc vượng đinh. Riêng đối với những nhà có song tinh tới hướng thì chỉ cần ở hướng đắc thuỷ lớn cũng đủ bảo đảm vượng cả đinh lẫn tài rồi.

8.2 Cách tính Thành Môn đơn giản

Hướng có Thành Môn phải cùng 1 Thiên, Địa hoặc Nhân nguyên long với toạ, hướng của căn nhà (hoặc ngôi mộ).

Hướng của vận tinh tới Thành Môn phải là sơn âm, xoay nghịch thì Thành Môn mới đắc vượng khí và dùng được. Nếu là sơn dương, xoay thuận thì chỉ gặp toàn khí suy, tử tới Thành môn nên không thể dùng. Cho nên gặp những trường hợp như thế thì cứ bỏ đi

Nếu khí Thành môn vượng thì dù hướng tinh ở nơi đó có là suy , tử cũng nên đặt nước. Tuy nhiên, nếu đã đặt thì nước phải lớn mới có hiệu quả, nếu nước nhỏ quá thì chỉ mất công trông coi, dọn dẹp mà thôi.Hoặc nơi khí thành môn vượng mà có ngã ba, ngã tư thì rất tốt.

8.3 Hướng cửa phòng ngủ và hướng đầu giường ngủ

Lấy tâm phòng, sau đó đưa tinh bàn của căn nhà vào tâm phòng. Cửa mở tại cung có hướng tinh là cát tinh: 1; 4; 6; 8. Nếu mở cửa tại cung có hướng tinh là vượng, sinh tiến khí thì càng tốt ho8n. Thí dụ: vận 8, cửa phòng có hướng tinh là 8 hoặc 9 thì sẽ tốt cho người ở trong phòng này đặc biệt là về tài lộc. Với học sinh thì nên mở cửa tại cung có hướng tinh 4 (chủ về học vấn)

Về việc luận cát, hung của phòng ngủ thì ngoài việc dùng phi tinh của cửa phòng kết hợp với niên-nguyệt tinh thì còn cần phải để ý tới những phương vị có thuỷ hoặc động khí ở gần hay chung quanh phòng ngủ như bếp, cầu thang, hồ cá…Nếu những khu vực này lại nằm cùng 1 cung với cửa phòng thì tính chất cát, hung càng tăng thêm rõ rệt. Chẳng hạn như 1 nhà toạ DẬU hướng MÃO, nhập trạch trong vận 7, thì khu vực ĐB có vận tinh 1, sơn tinh 6 và hướng tinh 2. Nếu 1 phòng ngủ có cửa phòng nằm tại khu vực phíaNguồn:nhantrachoc.net,vn

9. Sự Tương Quan Của Ngũ Hành

Sự tương tác giữa Ngũ hành với nhau được thể hiện qua những hình thức sau:

9.1 Ngũ hành tương sinh

Mọi vật thể muốn phát triển cần được sự hổ trợ, nuôi dưỡng từ những vật thể khác. Do đó, quan hệ tương sinh là biểu hiện quá trình tăng trưởng và phát triển của sự vật.

Nguyên lý ngũ hành tương sinh là:

– KIM sinh THỦY– THỦY sinh MỘC– MỘC sinh HỎA– HỎA sinh THỔ– THỔ sinh KIM.

Kim sinh Thủy không phải là vì Kim bị đốt nóng sẽ chảy ra thành nước, vì Kim lúc đó tuy ở dạng thể mền lỏng, nhưng đỏ chói, nóng bỏng nên sao có thể gọi là “Thủy” được. Thật ra, nguyên lý Kim sinh Thủy của cổ nhân là vì lấy quẻ CÀN là biểu hiện của Trời, mà Trời sinh ra mưa để tưới nhuần vạn vật, nên Thủy được phát sinh từ Trời. Mà quẻ CÀN có hành Kim nên mới nói Kim sinh Thủy là vậy. Mặt khác, trong Hậu thiên Bát quái của Văn Vương, Thủy là nguồn gốc phát sinh của vạn vật. Nếu không có Thủy thì vạn vật không thể phát sinh trên trái đất. Cho nên khi lấy CÀN (KIM) sinh KHẢM (THỦY) cũng chính là triết lý của người xưa nhìn nhận nguồn gốc của sự sống trên trái đất là bắt nguồn từ Trời, là hồng ân của Thượng Đế. Do đó, trong các nguyên lý tương sinh của Ngũ hành, Kim sinh Thủy là 1 nguyên lý tâm linh, triết lý và vô hình, và cũng là nguyên lý tối cao của học thuyết Ngũ hành tương sinh, vì nó là sự tương tác giữa Trời và Đất để tạo nên vạn vật. Còn những nguyên lý tương sinh còn lại chỉ là sự tương tác giữa những vật thể với nhau trên trái đất để duy trì sự sống mà thôi, nên cũng dễ hiểu và dễ hình dung hơn.

9.2 Ngũ hành tương khắc

Mọi vật thể khi bị sát phạt, khắc chế sẽ đi đến chỗ tàn tạ, thoái hóa. Do đó, quan hệ tương khắc là để biểu hiện quá trình suy vong và hủy diệt của sự vật.Nguyên lý của Ngũ hành tương khắc là:

– KIM khắc MỘC.– MỘC khắc THỔ.– THỔ khắc THỦY.– THỦY khắc HỎA.– HỎA khắc KIM.

Trong những nguyên lý tương khắc chỉ là sự tương tác giữa những vật thể với nhau để đi đến sự hủy diệt. Như vậy, trong nguyên lý tương sinh, tương khắc của Ngũ hành, người xưa đã bao hàm cả triết lý sự sống là bắt nguồn từ Trời (Thượng Đế), nhưng trường tồn hay hủy diệt là do vạn vật trên trái đất quyết định mà thôi. Ngoài ra, nó cũng bao hàm hết cả quá trình Sinh-Vượng- Tử- Tuyệt của vạn vật rồi vậy.

9.3 Ngũ hành phản sinh

Tương sinh là quy luật phát triển của vạn vật, nhưng nếu sinh nhiều quá đôi khi lại trở thành tai hại. Điều này cũng tương tự như 1 em bé cần phải ăn uống cho nhiều thì mới mau lớn. Nhưng nếu ăn nhiều quá thì đôi khi có thể sinh bệnh tật hoặc tử vong. Đó là nguyên do có sự phản sinh trong Ngũ hành.

Nguyên lý của Ngũ hành phản sinh là:

Kim cần có Thổ sinh, nhưng Thổ nhiều thì Kim bị vùi lấp.

Thổ cần có Hỏa sinh, nhưng Hỏa nhiều thì Thổ thành than.

Hỏa cần có Mộc sinh, nhưng Mộc nhiều thì Hỏa bị nghẹt.

Mộc cần có Thủy sinh, nhưng Thủy nhiều thì Mộc bị trôi dạt.

Thủy cần có Kim sinh, nhưng Kim nhiều thì Thủy bị đục.

9.4 Ngũ hành phản khắc

Khác với quy luật phản sinh, Ngũ hành phản khắc là khi một hành bị khắc, nhưng do lực của nó qúa lớn, khiến cho hành khắc nó đã không thể khắc được mà lại còn bị thương tổn, gây nên sự phản khắc.

Nguyên lý của Ngũ hành phản khắc là:

Kim khắc được Mộc, nhưng Mộc cứng thì Kim bị gãy.

Mộc khắc được Thổ, nhưng Thổ nhiều thì Mộc bị gầy yếu.

Thổ khắc được Thủy, nhưng Thủy nhiều thì Thổ bị trôi dạt.

Thủy khắc được Hỏa, nhưng Hỏa nhiều thì Thủy phải cạn.

Hỏa khắc được Kim, nhưng Kim nhiều thì Hỏa sẽ tắt.

Cho nên trong sự tương tác giữa Ngũ hành với nhau không chỉ đơn thuần là tương sinh hay tương khắc, mà còn có những trường hợp phản sinh, phản khắc sẽ xảy ra nữa. Biết hết được những điều này thì khi ứng dụng vào Huyền không phi tinh mới đạt đến mức độ linh hoạt và tinh vi, chính xác hơn. Chẵng hạn như một ngôi nhà nơi phía ĐÔNG có các vận-sơn-hướng tinh 3-3-7. Nếu theo thông thường thì thấy 7 thuộc hành Kim khắc 3 thuộc hành Mộc, nên nếu nhà này có cửa ra vào tại nơi đó thì đoán là nhà sẽ có người bị gãy tay, chân vì Kim khắc Mộc. Nhưng nếu nhìn kỹ thì thấy nơi đó có tới hai sao hành Mộc. Lại thêm phía ĐÔNG cũng hành Mộc. Cho nên Mộc nơi này vượng, một sao Kim thế yếu không thể khắc được, mà còn bị phản khắc lại. Vì thế nhà này không có người bị gãy tay chân, mà chỉ có bị bệnh yếu phổi hay đau phổi mà thôi.

10. Vượng Sơn, Vượng Hướng

Sau khi đã thiết lập được tinh bàn (hay trạch vận) cho 1 căn nhà thì điều trước tiên là phải xác định được những khu vực nào có sinh –vượng khí, cũng như những khu vực nào có suy – tử khí của căn nhà đó. Điều này cũng rất dễ dàng, vì chỉ cần căn cứ vào thời điểm lúc đang coi Phong thủy cho căn nhà là thuộc vận nào, rồi lấy vận đó làm chuẩn mốc. Kế đó nhìn vào hết 9 cung của trạch bàn. Hễ thấy cung nào có Hướng tinh cùng 1 số với đương Vận (tức vận hiện tại) thì khu vực đó được xem là có VƯỢNG KHÍ. Những cung nào có 2 số tiếp theo sau vượng khí thì được xem là có SINH KHÍ. Những cung nào có số trước số của vượng khí thì bị coi là có SUY KHÍ. Còn những cung nào có những số trước vượng khí từ 2 số trở lên thì đều bị coi là có TỬ KHÍ. Những điều này được áp dụng cho cả Hướng tinh lẫn Sơn tinh, còn Vận tinh thì không mấy quan trọng nên không cần phải xét tới.

VƯỢNG KHÍ: Hướng tinh cùng 1 số với đương Vận (tức vận hiện tại) thì khu vực đó được xem là có VƯỢNG KHÍSINH KHÍ: Những cung nào có 2 số tiếp theo sau vượng khí thì được xem là có SINH KHÍSUY KHÍ: Những cung nào có số trước số của vượng khí thì bị coi là có SUY KHÍTỬ KHÍ: Còn những cung nào có những số trước vượng khí từ 2 số trở lên thì đều bị coi là có TỬ KHÍ

Ví dụ Vận 8:VƯỢNG KHÍ: 8SINH KHÍ: 9-1SUY KHÍ: 7TỬ KHÍ: 6-5-4-3-2

Ví dụ Vận 9:VƯỢNG KHÍ: 9SINH KHÍ: 1-2SUY KHÍ: 8TỬ KHÍ: 7-6-5-4-3

*Thí dụ 1: Nhà tọa TÝ hướng NGỌ, xây xong và vào ở trong vận 8.

Nếu lập trạch vận thì sẽ thấy Hướng tinh 8 tới phía NAM, nên phía NAM được xem là đắc VƯỢNG KHÍ (vì hướng tinh cùng 1 số với đương Vận, tức Vận 8). Còn phía ĐÔNG BẮC có hướng tinh số 9, phía TÂY có hướng tinh số 1, tức là 2 số tiếp theo sau số 8 (vì sau 8 là 9, sau 9 lại trở về 1) nên là 2 khu vực có SINH KHÍ. Còn phía BẮC có hướng tinh số 7, trước số 8 (đương vận) 1 số nên là khu vực có SUY KHÍ. Những phía còn lại có những hướng tinh 6, 5, 4, 3, 2, tức là những số trước số 8 tối thiểu là 2 số nên đều là những khu vực có TỬ KHÍ. Đó là mới chỉ xét về Hướng tinh. Sau đó lần lượt làm như vậy với Sơn tinh để tìm ra những khu vực có Sinh- Vượng khí hay Suy-Tử khí.

* Thí dụ 2: Cũng nhà tọa TÝ hướng NGỌ, xây xong và vào ở năm 2000 (tức vận 7).

Đến năm 2007 mới coi Phong thủy. Vì nhà còn mới, chưa tu sửa gì nhiều, chủ nhà cũng chưa bao giờ đi xa quá 1 tháng, cho nên khi lập trạch vận thì vẫn phải dùng Vận 7 để lập Vận bàn. Sau đó lấy Tọa, Hướng bàn thì sẽ thấy Hướng tinh 7 tới phía BẮC, Hướng tinh 8 tới phía TÂY NAM. Hướng tinh 9 tới phía ĐÔNG, Hướng tinh 1 tới phía ĐÔNG NAM. Vì nhà này nhập trạch trong vận 7, nên lúc đó phía BẮC có Hướng tinh số 7, nên là 1 khu vực tốt (đắc VƯỢNG KHÍ). Còn phía ĐÔNG NAM có Hướng tinh số 1, lúc đó trong Vận 7 còn là Tử khí nên là 1 khu vực xấu. Nhưng đến năm 2007 mới coi Phong thủy thì đã qua Vận 8, nên lúc đó khu vực phía BẮC có số 7 là bị SUY KHÍ, nên đã biến thành xấu. Còn khu vực phía TÂY NAM có hướng tinh số 8, lúc này đã trở thành VƯỢNG KHÍ, nên là khu vực tốt nhất của căn nhà. Rồi Hướng tinh số 1 đang là TỬ KHÍ của vận 7 trở thành SINH KHÍ của vận 8, nên khu vực phía ĐÔNG NAM cũng đang từ xấu mà biến thành tốt.

Cho nên sự biến đổi của Sơn, Hướng tinh: từ Sinh-Vượng thành Suy-Tử, rồi từ Suy-Tử trở thành Sinh-Vượng là điều mà người học Huyền Không cần để ý, và nó cũng là 1 trong những yếu tố giúp cho việc giải đoán Phong thủy thêm phần linh hoạt và uyển chuyển, chính xác hơn.

Sau khi đã phân biệt Cửu khí thành SINH-VƯỢNG-SUY-TỬ cho mỗi vận thì mới xét tới mức độ ảnh hưởng của chúng như sau:

– SINH KHÍ: có tác dụng tốt, tuy ảnh hưởng lâu dài và trong tương lai, nhưng cũng cần được phát huy.

– VƯỢNG KHÍ: có tác dụng tốt đẹp và mau chóng, nhất là trong lúc còn đương vận, cho nên cần được phát huy càng sớm càng tốt.

– SUY KHÍ: vì chỉ là khí suy nên tác dụng cũng chưa đến nổi xấu lắm (ngoại trừ các khí 2, 5, 7) cho nên tuy cần phải né tránh nhưng cũng không phải là tuyệt đối.

– TỬ KHÍ: là những khí xấu cần phải né tránh, nếu không sẽ có tai họa về nhân sự, sức khỏe hoặc tiền bạc.

Kế đó lại còn phải phân biệt những khí SINH-VƯỢNG-SUY-TỬ đó là Sơn tinh hay Hướng tinh. Nếu là Sơn tinh thì sẽ có ảnh hưởng đến nhân sự (số lượng người nhiều, ít, tài giỏi hay không…trong nhà). Nếu là Hướng tinh thì sẽ có ảnh hưởng đến sức khỏe và tài lộc của gia đình đó.

Trong “Thiên ngọc kinh Ngoại thiên” của Dương công Chẩm có viết: “Sơn quản nhân đinh, Thủy quản tài lộc”. Chữ “Sơn” ở đây không chỉ có nghĩa là “núi”, mà còn là Sơn tinh của 1 trạch vận. Cũng như chữ “Thủy” không chỉ có ý nghĩa là “sông nước”, mà còn là Hướng tinh (do quan niệm phương tọa cần có núi, phía trước cần có thủy). Cho nên Sơn tinh chủ về nhân đinh, còn Hướng tinh chủ về tài lộc.

Vì đã gọi là “Sơn”, nên Sơn tinh nếu muốn phát huy tác dụng (hay đắc cách) thì cần phải có núi cao (hay nhà hoặc cây cao…). Vì đã gọi là “Thủy”, nên Hướng tinh nếu muốn phát huy tác dụng thì cần phải gặp nước (thủy). Nhưng không phải Sơn tinh nào cũng cần phải gặp núi, mà chỉ có những Sơn tinh đang là khí Sinh, Vượng mà thôi. Chẳng hạn như trong vận 1 thì các Sơn tinh 1 (vượng khí), 2, 3 (sinh khí) đóng ở khu vực nào thì cần có núi hay nhà cao ở tại khu vực đó. Có như vậy thì gia đình đó nhân đinh đông đúc, lại chủ xuất hiện người tài giỏi, có danh, có tiếng. Ngược lại, những khu vực có những Sơn tinh là Suy khí hay Tử khí thì lại cần thấp, trống hay bằng phẳng. Nếu tại những khu vực đó mà có núi hay nhà cao… thì sẽ có tai họa về nhân đinh như hiếm người, con cái khó lấy chồng, lấy vợ, hoặc trong nhà xuất hiện cảnh chia ly, góa bụa, cô quả…

Đó chỉ là riêng đối với các trường hợp khí SINH, VƯỢNG, SUY, TỬ của Sơn tinh. Còn đối với các trường hợp của Hướng tinh cũng thế. Tuy rằng Hướng tinh cần có Thủy, nhưng chỉ những khu vực nào có Sinh khí hay Vượng khí của Hướng tinh mới cần có Thủy như sông, hồ, ao, biển hoặc buồng tắm, nhà vệ sinh, đường xá, cửa ra vào… Nếu được như thế thì tài lộc dồi dào, của cải sung túc, công việc làm ăn ổn định… Ngược lại, nếu những khu vực có Suy, Tử khí của Hướng tinh mà lại có “THỦY” thì nhà đó tài lộc túng thiếu, dễ bị hao tán tiền của, công ăn việc làm lụn bại…

Thí dụ 3: nhà hướng 30 độ, tức tọa MÙI hướng SỬU, vào ở trong vận 8.

Nếu lập Trạch vận thì sẽ thấy các Hướng tinh 8 (Vượng khí), 9, 1 (Sinh khí) ở các khu vực phía ĐÔNG BẮC, TÂY và TÂY BẮC. Cho nên những khu vực này (bên trong hay bên ngoài nhà) cần có thủy của sông hồ, ao biển, buồng tắm, cửa ra vào … Còn khu vực phía NAM có hướng tinh 7 (Suy khí) nên không nên có thủy, nếu có tất nhà sẽ dễ bị trộm cướp quấy phá. Những khu vực còn lại cũng toàn là Tử khí của Hướng tinh nên đều không nên có thủy hoặc cửa ra vào.

Kế đó lại xét tới những trường hợp của các Sơn tinh. Vì các Sơn tinh số 8 (Vượng khí), 9, 1 (Sinh khí) nằm tại các khu vực phía TÂY NAM, BẮC và NAM, nên nếu những khu vực này mà có núi hay nhà cao… thì nhà này sẽ đông con, nhiều cháu, con cái tài giỏi, nên người… Các khu vực còn lại thì chỉ toàn là Suy khí hay Tử khí của Sơn tinh, nên nếu có núi hay nhà cao tất sẽ làm phương hại tới nhân đinh của căn nhà này.

Sau khi đã biết và phân biệt được những yếu tố trên rồi mới có thề xét tới trường hợp cơ bản đầu tiên của Phong thủy Huyền Không là Vượng sơn, Vượng hướng. Như chúng ta đã biết, Phong thủy bắt đầu từ Hình tượng, rồi sau này mới phát triển lên tới Lý khí và Vận số. Mà Hình tượng phái (tức Loan đầu phái) thường chủ trương nhà cần có núi bao bọc, che chở nơi phía sau (Huyền Vũ), còn phía trước thì cần phải trống thoáng, có sông, hồ phản chiếu ánh sáng để tích tụ Long khí (Chu Tước), đồng thời có cửa ra vào để hấp thụ Long khí. Còn đối với Phong thủy Huyền không thì khi cất nhà phải chọn hướng như thế nào cho Vượng khí của Hướng tinh tới Hướng (tức phía trước), còn Vượng khí của Sơn tinh tới phía sau. Phối hợp giữa Hình tượng với Lý khí (tức phi tinh) thì nhà này sẽ có Vượng khí của Hướng tinh tới phía trước, đắc Thủy của sông hồ, lại có lối ngõ, cửa nẻo vào nhà nên tài lộc đại vượng. Còn Vượng khí của Sơn tinh tới phía sau gặp núi nên chủ vượng nhân đinh, con cháu đông đúc, nhân tài xuất hiện nên là cách cục “phúc lộc song toàn”. Cho nên Vượng Sơn, Vượng Hướng (còn gọi là ĐÁO SƠN, ĐÁO HƯỚNG, vì vượng khí của Sơn tinh tới tọa, vượng khí của Hướng tinh tới hướng) là cách cục cơ bản của Phong thủy và Huyền Không. Những nhà có cách cục như vậy còn được gọi là những nhà có “Châu bảo tuyến” (hướng nhà quý như châu báu). Điểm quan trọng của những trường hợp này là giữa hình thế bên ngoài (Loan đầu) và phi tinh có sự tương phối thích hợp. Ngược lại, nếu 1 căn nhà phía trước cũng có sông hồ, phía sau cũng có núi cao. Nhưng do việc chọn hướng không thích hợp, hoặc do xây dựng không đúng lúc mà khi lập Trạch vận thì Vượng khí của Sơn tinh lại tới hướng (phía trước), còn vượng khí của Hướng tinh lại tới tọa (phía sau) thì tuy hình thế chung quanh của ngôi nhà là tốt, nhưng do không ứng hợp được với phi tinh nên lại chủ phá tài, tổn đinh, tan cửa nát nhà mà thôi. Đây còn gọi là cách cục “Thượng sơn, Hạ thủy” sẽ nói ở 1 phần khác.

Một điểm cần chú ý trong cách cục “vượng Sơn, vượng Hướng” (hay “Đáo Sơn, Đáo Hướng”) này là tuy trên lý thuyết thì các nhà Phong thủy thường coi những nhà có vượng khí của Hướng tinh tới phía trước, còn vượng khí của Sơn tinh tới phía sau nhà là cách cục “vượng Sơn, vượng Hướng”. Nhưng điều quan trọng là ngoại hình bên ngoài của căn nhà (Loan đầu) có phù hợp với vượng khí của Sơn và Hướng tinh hay không? Nếu phù hợp thì mới thật sự là cách cục “vượng Sơn, vượng Hướng”, và nhà mới phát phúc, phát lộc. Còn nếu ngoại hình không phù hợp thì sẽ biến thành cách cục “Thượng Sơn, Hạ Thủy” mà gây ra hung họa đầy dãy. Nhưng thế nào là phù hợp hay không phù hợp? Như chúng ta đã biết, Sơn tinh mà muốn đắc cách thì phải đóng ở những khu vực có núi cao. Còn Hướng tinh mà muốn đắc cách thì phải đóng ở những khu vực có Thủy như sông biển hoặc đường đi hay cửa nẻo ra vào nhà… Cho nên những nhà mà có vượng khí của Hướng tinh tới phía trước thì còn đòi hỏi khu vực phía trước của nhà đó phải trống, thoáng, có thủy hay đường đi, cửa ra vào… Còn vượng khí của Sơn tinh đến phía sau cũng đòi hỏi khu vực phía sau nhà có núi hay nhà cao… Có như thế mới được coi là thật sự đắc cách “Đáo Sơn, Đáo Hướng” mà đinh, tài đều vượng. Ngược lại, nếu như nhà đó có vượng khí của Hướng tinh tới phía trước, nhưng phía trước nhà lại có núi hay nhà cao, hoặc bị gò đất nhô lên, hay bị cây cối rậm rạp, um tùm che chắn… tức là vượng khí của Hướng tinh không gặp “Thủy” mà lại gặp “Sơn”. Còn vượng khí của Sơn tinh tuy tới phía sau, nhưng phía sau nhà lại không có núi hay nhà cao, mà lại có sông, hồ, ao, biển, hoặc cống rãnh…, tức là vượng khí của Sơn tinh không gặp “Sơn” mà lại gặp “Thủy”. Đó đều là những cách cục suy bại về tài lộc và nhân đinh. Cho nên mới nói giữa phi tinh và ngoại hình Loan đầu bên ngoài phải có sự phù hợp là như vậy. Nếu phù hợp thì mới thật sự là “vượng”, và mọi sự mới được tốt đẹp. Còn nếu như trái ngược (tức không phù hợp) thì dù có “vượng” cũng sẽ thành “suy” và phát sinh ra muôn vàn tai họa.

11. Thượng Sơn, Hạ Thủy

“Thanh nang Tự” viết: “Long thần trên núi không được xuống nước, Long thần dưới nước không được lên núi”. Đây là 1 nguyên lý trọng yếu của Huyền Không, hay như Thẩm trúc Nhưng nói là “then chốt của cát, hung, họa, phúc”.

Như chúng ta đã biết “Sơn quản nhân đinh, Thủy quản tài lộc”. Chữ “Sơn” ở đây không những chỉ nói về “Núi”, mà còn dùng để ám chỉ những phi tinh của Sơn bàn (tức Sơn tinh). Cũng như chữ “Thủy” ở đây không những chỉ nói về “Nước”, mà còn dùng để ám chỉ những phi tinh của Hướng bàn (tức Hướng tinh). Cho nên Sơn tinh chủ về nhân đinh, Hướng tinh chủ về tài lộc. Chính vì thế nên khí sinh, vượng của Sơn tinh cần đóng tại những nơi có núi hay gò đất cao, hay những nơi có nhà cửa, cây cối cao lớn. Như thế là những cách cuộc Sơn tinh đắc cách, chủ người trong nhà tài giỏi, đông đúc, thành công sớm, tên tuổi vang dội… Còn khí sinh, vượng của Hướng tinh thì cần đóng tại những nơi có sông, hồ, ao, biển, đường rộng, ngã ba, ngã tư hay cửa ra vào… Đó là những cách cuộc Hướng tinh đắc “Thủy”, nên tài lộc của gia đình sẽ không bao giờ thiếu, công việc làm ăn ổn định…

Ngược lại, nếu những nơi có khí sinh, vượng của Sơn tinh lại không có núi hay nhà cao, cây cao, nhưng lại có Thủy của sông, hồ, ao, biển, hoặc là những vùng thấp, trũng… thì sẽ chủ gia đình ly tán, cô quả, tuyệt tự hoặc yểu chiết… Cho nên mới nói “Long thần trên núi không được xuống nước”. Chữ “Long thần trên núi” thực ra là để ám chỉ Sơn tinh. Sơn tinh nếu là khí sinh, vượng so với đương vận thì không thể đóng tại những nơi thấp, trũng hoặc có nước (hạ thủy), kẻo nếu không thì sẽ có tai họa cho nhân đinh.

Tương tự như thế, nếu những nơi có khí sinh, vượng của Hướng tinh lại không có Thủy của sông, hồ, ao, biển, đường đi hoặc cửa ra vào…, nhưng lại có núi hay nhà cao, cây cao thì sẽ chủ tài lộc khó khăn, công việc làm ăn lụn bại, gia cảnh lầm than, sa sút. Cho nên mới nói “Long thần dưới nước không được lên núi”. Chữ “Long thần dưới nước” là để ám chỉ Hướng tinh. Hướng tinh nếu là khí sinh, vượng so với đương vận thì không thể đóng tại những nơi cao ráo hoặc có núi đồi (thượng sơn), kẻo nếu không sẽ có tai họa về tiền bạc. Đây chính là cách cuộc “Thượng sơn, Hạ thủy” trong Huyền không học.

Thí dụ: nhà tọa Sửu hướng Mùi, nhập trạch trong vận 8. Nếu lập trạch vận thì sẽ thấy tinh bàn của căn nhà

Trước hết xét về Sơn tinh, ta thấy các khu vực TÂY, TÂY BẮC và ĐÔNG BẮC của căn nhà này có các số 9, 1, và 8, tức là những sinh, vượng khí của Sơn tinh (so với đương vận, tức vận 8). Nếu những khu vực này chỉ toàn là sông, hồ, hoặc đường đi, chứ không có núi hay nhà cao thì nhà này đã phạm cuộc “Hạ thủy”, chủ nhân đinh suy bại. Sau đó, lại xét về Hướng tinh, ta thấy các khu vực phía BẮC, NAM và TÂY NAM có các số 9, 1 và 8, tức là những sinh, vượng khí của Hướng tinh trong vận 8. Nếu những khu vực này không có Thủy, mà lại có núi đồi hay nhà cao, cây cao, thì căn nhà này còn phạm thêm cuộc “Thượng sơn”, chủ suy bại cả về tài lộc nữa.

Cũng tương tự như những trường hợp “vượng Sơn, vượng Hướng” (hay “Đáo Sơn, Đáo Hướng”) là trên lý thuyết thì các nhà Phong thủy thường cho những nhà có vượng tinh của Hướng đến tọa, vượng tinh của Sơn đến hướng là thuộc cách cuộc “Thượng sơn, Hạ thủy”, và gọi những nhà lập trạch vận theo những hướng đó là những nhà có “Hỏa Khanh tuyến” (tức hướng xấu hay bần tiện). Nhưng trên thực tế thì còn phải tùy thuộc vào bối cảnh Loan đầu bên ngoài của căn nhà đó như thế nào rồi mới có thể kết luận là nhà đó có bị “Thượng sơn, Hạ thủy” hay không được.

Thí dụ: nhà tọa Khôn hướng Cấn, xây và vào ở (nhập trạch) trong vận 8. Nếu lập trạch vận thì tinh bàn căn nhà sẽ như

Trước hết xét về Sơn tinh, ta thấy khu vực ĐÔNG BẮC có Sơn tinh 8, tức là vượng khí của Sơn tinh tới hướng, nên trên lý thuyết là phạm cuộc “Hạ thủy” (vì vượng tinh của Sơn tới hướng (phía trước nhà). Nhưng nếu khu vực này không có sông, hồ, ao, biển, mà lại có núi đồi hay nhà cao, thì vượng khí của Sơn tinh nhà này đã đắc cách, tức là đóng tại chỗ có cao sơn thực địa, cho nên trong nhà nhân đinh vẫn đông đúc, chứ không bị suy bại. Sau đó lại xét tới Hướng tinh, ta thấy khu vực phía TÂY NAM có Hướng tinh 8, tức là vượng khí của Hướng tinh tới phương tọa, nên trên lý thuyết là phạm cuộc “Thượng sơn”. Nhưng nếu khu vực này không có núi, đồi hoặc nhà cao, mà lại có Thủy hoặc đường đi, cửa ra vào… thì vượng khí của Hướng tinh nhà này vẫn đắc cách, tức là đóng tại chỗ có Thủy nên tiền của, tài lộc của gia đình này vẫn dồi dào, sung túc.

Cho nên điều quan trọng là phải phối hợp phương vị của phi tinh với địa hình bên ngoài thì mới có thể xác quyết được chính xác mọi trường hợp tốt, xấu, chứ không thể mới nhìn thấy 1 căn nhà có vượng tinh của Hướng tới phía trước, vượng tinh của Sơn tới phía sau mà đã vội cho là căn nhà tốt. Hoặc mới thấy 1 căn nhà có vượng tinh của Hướng tới phía sau, vượng tinh của Sơn tới phía trước mà đã vội cho là căn nhà xấu thì sẽ dẫn tới những sai lầm đáng tiếc.

Một điểm cần chú ý khác là tuy Sơn tinh cai quản về nhân đinh, và cần đóng tại những chỗ cao sơn thực địa, nhưng chỉ có những sinh, vượng khí của Sơn tinh mới nên gặp núi đồi hoặc nhà cao mà thôi. Còn những khí suy, tử của Sơn tinh thì lại không nên đóng ở những nơi đó, mà chỉ nên đóng ở những chỗ bằng phẳng hoặc có Thủy mà thôi. Nếu chẳng may mà nhà lại có khí suy, tử của Sơn tinh đóng tại những chỗ cao hoặc núi đồi thì sẽ gặp tai họa do những đối tượng đó gây ra. Thí dụ như hiện tại đang trong vận 8, nên nếu 1 nhà có sơn tinh Thất xích (số 7) đóng tại khu vực có núi hay nhà nhà cao chót vót thì sẽ bị tai họa do Sơn tinh Thất xích mang tới. Vì Thất xích là biểu tượng của kẻ tiểu nhân hay giặc cướp, nên nhà này sẽ thường xuyên bị bọn trộm cướp tới phá phách, hoặc ra ngoài bị kẻ tiểu nhân tìm cách hãm hại…

Tương tự như thế, đối với Hướng tinh tuy cai quản về tài lộc, và cần đóng tại những chỗ thấp trũng hoặc có thủy, nhưng chỉ có những sinh, vượng khí của Hướng tinh mới cần thỏa mãn điều kiện này mà thôi. Còn đối với những suy, tử khí của Hướng tinh nếu gặp Thủy sẽ chủ gây ra những tổn thất về tiền bạc, hoặc những bệnh tật, tai họa, tùy theo tính chất của Hướng tinh đó như thế nào.

Lấy thí dụ như 1 nhà trong vận 8, có hướng tinh Nhị hắc gặp thủy, cho nên nhà này vừa bị hao tiền, vừa thêm bệnh tật nhiều, nhất là về tỳ vị, sảy thai, hỏa hoạn, hình ngục, tai nạn xe cộ. Trong nhà dễ có quả phụ hoặc ni cô…

Cho nên đối với những Hướng tinh là khí suy, tử thì lại nên đóng ở những chỗ cao ráo hoặc yên tĩnh. Có như thế thì mới tránh nỗi họa mà thôi. Còn nếu như khí suy, tử của Sơn tinh mà còn đóng ở những nơi có núi hay nhà cao, khí suy tử của Hướng tinh đóng ở những nơi có thủy hoặc cửa nẻo ra vào nhà thì tức là cảnh “HUNG TINH ĐẮC CÁCH”, tai họa còn khủng khiếp hơn là cách cục “thượng Sơn, Hạ Thủy” nữa.

Nói tóm lại thì sinh, vượng khí của Sơn tinh phải đóng ở những chỗ cao ráo, còn sinh, vượng khí của Hướng tinh cần gặp thủy. Nếu được như thế là nhà có phúc, có lộc, còn nếu ngược lại là cảnh bần tiện, nghèo hèn. Cho nên người học Huyền không phải dựa vào những tiêu chuẩn này mà chọn phương lập hướng cho đúng, tức là phải kiếm cho được những nhà đắc “vượng Sơn, vượng Hướng” (hay “Đáo Sơn, Đáo Hướng”), và phải xa lánh những nhà có cách cuộc “Thượng Sơn, Hạ Thủy” mới được. Ngoài ra cũng cần phải để ý, không bao giờ để cho những khí suy, tử của Sơn, Hướng tinh có thể trở thành “Hung tinh đắc cách” mà gieo rắc tai họa cho người ở trong nhà được.

Xem tiếp: Huyền không phi tinh toàn tập – phần 2

Đọc Truyện Trảm Long 1: Đại Phong Thủy Sư

Trảm Long 1 – Đại Phong Thủy Sư

Tác giả : Hồng Trần &nbsp 

Chương 30

/

35

  &nbsp  Xuống cuối

Người này vận áo ngắn vải thô kiểu nông dân, trên đầu đội sùm sụp cái mũ cỏ, thấy bốn người tiến lại liền đứng thẳng người dậy, nhưng vẫn cúi gằm đầu để mũ cỏ che sấp mặt. 

Thấy Lục Kiều Kiều và Hồng Tuyên Kiều chậm rãi bước tới gần, gã liền nhặt cây tề mi côn bên bức tường vừa dựa ban nãy chống bên cạnh người. Động tác này quen thuộc quá, Lục Kiều Kiều, Jack và An Long Nhi đều không hẹn mà cùng kinh ngạc kêu lên:

“Tôn Tồn Chân!?”

“Tên yêu quái!?”

Jack lập tức rút súng ra ngắm vào Tôn Tồn Chân đầu tiên, An Long Nhi vọt tới như một mũi tên, chắn trước người Lục Kiều Kiều, sợi thừng gắn mũi phi tiêu đã sẵn sàng trên tay; Hồng Tuyên Kiều không quen biết Tôn Tồn Chân, nhưng vừa thấy tình hình có vẻ sắp khai chiến, liền lùi về phía sau nửa bước xoay người bày thủ thế quyền.

Tôn Tồn Chân từ tốn đặt cây Tề mi côn về lại bên tường, từng bước tiến lại phía Lục Kiều Kiều.

Lục Kiều Kiều hiên ngang đứng nguyên tại chỗ nghiêm giọng quát hỏi: “Đứng lại, ngươi còn bám theo ta làm gì? Vẫn định giết người chắc?”

“Kiều Kiều, tôi muốn nói với mọi người một câu…” Tôn Tồn Chân lại bước lên hai bước, giọng rất nhỏ.

“Có gì nói mau, đứng đó mà nói!” Lục Kiều Kiều không muốn hắn tiến gần thêm bước nào nữa.

Tôn Tồn Chân ngẩng đầu lên, mọi người liền trông thấy một bản mặt vàng ệch không chút sắc máu, đây là một gã trai trẻ tướng mạo rất bình thường, nhưng ngoài Hồng Tuyên Kiều ra ai nấy đều hiểu rõ, khuôn mặt này chỉ là mặt nạ Tôn Tồn Chân dùng bột mì làm ra. Dưới lớp mặt nạ như thật ấy mới là chân diện mục của hắn, bản mặt không có mặt xấu xí như ác quỷ.

Hắn nhìn Lục Kiều Kiều, rồi lại nhìn Jack và An Long Nhi, ánh mắt không hề có sát khí.

Sau một thoáng im lặng, Tôn Tồn Chân lí nhí thốt ra hai chữ: “Xin lỗi.”

Chẳng ai nghe thấy hai chữ này lại thả lỏng người, Jack và An Long Nhi đều biết cây gậy của hắn nặng nhường nào, cũng biết thân thủ của hắn nhanh ra sao, xuất thủ tàn độc thế nào. Súng vẫn chĩa thẳng vào hắn, mọi đôi mắt đều chăm chăm nhìn hắn cảnh giác.

Tôn Tồn Chân nói xong, cúi đầu xoay người chậm chạp bước lại bên bờ tường cầm lấy cây Tề mi côn, quay lại nhìn Lục Kiều Kiều một cái, ánh mắt ảm đạm thê lương, rồi lại cúi đầu chậm chạp đi về phía đầu đường.

Lục Kiều Kiều nhìn theo bóng lưng hắn đi xa, biết rằng đây có lẽ là lần cuối cùng gặp mặt, Tôn Tồn Chân từ nay về sau sẽ bị triều đình nhà Thanh truy sát, cho đến khi hắn chết mới thôi.

Cô đứng lặng dõi mắt tiễn Tôn Tồn Chân đi về phía đầu đường, bóng lưng Tôn Tồn Chân tuyệt vọng suy sụp, nổi bật trên nền tà dương và con đường dài, khiến Lục Kiều Kiều tựa như trông thấy chính mình một thời từng đơn độc lưu lạc nơi ngõ liễu tường hoa.

Lúc đó, người này đã ở cạnh mình, chỉ là đôi bên không tiếp xúc, cùng chịu cảnh cô độc. Là đồng cảm hay đồng bệnh tương lân? Tâm trạng Lục Kiều Kiều bỗng trở nên nặng nề phức tạp.

Con người này lẳng lặng mai phục bên mình hai năm, hắn có lẽ là người hiểu mình nhất thế gian này.

Một kẻ theo dõi phải lòng người bị mình theo dõi thì sai sao? Một kẻ làm chuyện sai trái, hối hận xin lỗi xong có thể cho hắn thêm một cơ hội không?

Tôn Tồn Chân bị Lục Liều Kiều treo lên thẩm vấn uy hiếp, để cầu sinh, tất cả những gì nói ra đều có thể là giả, nhưng khi Lục Kiều Kiều thả cho hắn đi, hắn đang vội thoát thân mà vẫn chủ động theo họ từ thôn Quan Tài tới trấn Phù Dung, chỉ để nói một tiếng xin lỗi, khiến Lục Kiều Kiều cảm nhận được tấm lòng chân thành của một người bạn cũ.

Tôn Tồn Chân vì muốn tháo gỡ thuật điếu hồn mà thuật sĩ triều đình dùng truy sát mình, từng cầu xin Lục Kiều Kiều dùng bùa thế thân vứt bỏ bát tự của hắn, cũng chẳng tiếc đem sinh mệnh mình đặt vào chân không tử địa không có vận mệnh bảo hộ kia.

Một người vì mưu cầu sự sống, mà vứt bỏ cả bát tự lẫn vận mệnh của bản thân, tự mình nắm lấy sinh tử, đây là sợ chết ư?

Không, đây có lẽ là kẻ dũng cảm nhất, hắn sẽ có được thứ tự do vượt qua số mệnh, dù chỉ là trong một ngày.

Lục Kiều Kiều hét lên như xé toạc cổ họng: “Tôn Tồn Chân!”

Tôn Tồn Chân đã đi tới đầu đường bên kia, nghe Lục Kiều Kiều hét gọi tên mình, tiếng gọi không hề mang nỗi thù hận khinh khi, cũng chẳng có uy hiếp chán ghét, chỉ như trên đường gặp một người bạn, cất cao tiếng gọi mình lại…

Suốt hai năm theo dõi Lục Kiều Kiều, hắn từng ngỡ rằng mình sẽ mãi mãi là bóng ma phía sau cô, Lục Kiều Kiều mãi mãi sẽ không biết tới sự tồn tại của hắn, có thể một đời từ xa trông theo bóng lưng Lục Kiều Kiều, cũng có hỷ nộ ái lạc, hắn đã thoải mãn lắm rồi. Sau khi xảy ra bao nhiêu biến cố, cuối cùng được nghe thấy tên mình vang lên từ miệng Lục Kiều Kiều, đây là âm thanh hắn chưa từng được nghe, có nằm mơ cũng muốn được nghe.

Hắn chấn động toàn thân, chống cây Tề mi côn xuống đất.

Lục Kiều Kiều từ tốn đi lại phía Tôn Tồn Chân, Jack giơ súng yểm trợ cho cô từ mé bên, An Long Nhi vẫn đi trước mặt cô, theo sát bảo vệ.

Tôn Tồn Chân vẫn đứng nguyên chỗ cũ, quay lưng lại với Lục Kiều Kiều, Lục Kiều Kiều vòng lên trước mặt hắn ta, ngẩng đầu nghiêm túc nhìn vào mắt hắn, hồi lâu sau mới nói: “Đưa bát tự của ngươi cho ta.”

Gương mặt đeo mặt nạ giống y như thật của Tôn Tồn Chân không hề lộ chút biểu cảm nào, nhưng bàn tay cầm Tề mi côn lại run lên bần bật, tròng mắt ướt đẫm, thoắt chốc đã tuôn trào lệ nóng.

Lục Kiều Kiều nhờ Hồng Tuyên Kiều về trước, đem quần áo và đồ dùng hàng ngày mới mua giao cho Lý Tiểu Văn, sau đó cùng Jack và An Long Nhi dẫn Tôn Tồn Chân tới khu rừng trúc gần trấn Phù Dung.

Trong rừng trúc có một con sông nước cạn rộng chừng hơn mươi trượng, nước sông trong veo nhìn thấu đáy, chỉ sâu đến đầu gối, phản chiếu ánh hoàng hôn đỏ máu. Trên con rạch nhỏ thỉnh thoảng có một hai con thủy điểu sặc sỡ bay qua, mang lại chút sức sống cho dải nước đỏ và xanh đậm màu mực tối.

Lá rơi phủ dày trên mặt đất, bốc lên mùi hương thanh mát của lá tre, khiến người ta chỉ muốn nằm ngay xuống đất.

Lục Kiều Kiều một tay chắp sau lưng, một tay cầm tẩu thuốc, nhìn bầu trời bị ánh tà dương nhuộm đỏ, lòng lại có chút ngưỡng mộ Tôn Tồn Chân. Thật không thể tưởng tượng nổi, cuộc đời không được số mệnh an bài sẽ như thế nào, nếu bản thân có thể khống chế, liệu có phải sẽ rất hạnh phúc không?

Cô nói với Tôn Tồn Chân đang đứng phía sau: “Trước tiên ngươi phải làm một vật thế thân, thông thường là một con bù nhìn cỏ, hoặc thứ khác cũng được, ví dụ như lần trước ta dùng búp bê vải ấy, như vậy ngươi có thể lấy lại số mệnh của mình lúc cần thiết.”

Tôn Tồn Chân nheo mắt nhìn mặt trời sắp lặn xuống đồng dã, quay đầu lại nói với Lục Kiều Kiều: “Không cần đâu, tôi tuy không đoản mệnh, nhưng cũng chẳng có mấy vinh hoa phú quý, hơn nữa… tôi không thích cái vận mệnh của mình.”

Lục Kiều Kiều đã xem qua bát tự của Tôn Tồn Chân, hiểu rõ số mệnh ông trời sắp đặt cho hắn, bát tự của hắn tứ trụ thần dương, mệnh trẻ đơn côi già cô độc. định sẵn một đời cô độc. Người đã từng cô độc như cô, có thể hiểu được Tôn Tồn Chân không thích mệnh mình vì lẽ gì.

“Vậy thì về sau ngươi phải tự dựa vào chính mình đấy, ngươi sẽ không gặp vận may nữa, không còn quý nhân…”

“Tôi sẽ sống cuộc sống mà tôi chọn.” Tôn Tồn Chân ngắt lời Lục Kiều Kiều, xem ra hắn thực không thể đợi nữa rồi.

Lục Kiều Kiều nói lớn: “Được! Cũng có khí phách lắm!”

Cô vứt tẩu thuốc vào tay An Long Nhi, nhanh nhẹn móc trong áo ra tờ giấy bùa và cây bút chu sa, tay chắp kiếm quyết điểm lên đốm lửa, niệm thần chú viết nhanh lá bùa chôn vùi bát tự, nói với Tôn Tồn Chân: “Đi tìm vật thế thân của ngươi đi!”

Tôn Tồn Chân cắm cây Tề mi côn xuống đất, nhún người nhảy xuống con rạch sâu chưa tới đầu gối, hắn đạp chân trên mặt nước, không hề chìm mà như chạy bộ trên mặt đất, chỉ thấy một trận mù nước bắn tung lên, hắn đã lướt ra tới giữa con rạch.

“Thủy thượng phiêu?!” An Long Nhi từ hồi học võ công ở chỗ sư phụ đã từng nghe nói, trên giang hồ có một loại khinh công có thể đạp nước mà đi.

“Hả?! Giê su!” Jack cũng kinh ngạc thốt lên, trong đầu anh ta chỉ nhớ trong Kinh thánh từng nói, Chúa Giê su đi trên mặt nước hiện thần tích, giờ được tận mắt chứng kiến quả thực không sao tiếp nhận nổi.

An Long Nhi lần này không thể không phục, lần trước ăn may thắng được Tôn Tồn Chân một chiêu nửa thức, chỉ bởi có hai khẩu súng lục không ngừng bắn quét ép trận, Tôn Tồn Chân khi đó cũng nóng nảy, nên mình mới có thể đắc thủ. Bằng không luận về công phu thật sự, căn bản không thể sánh nổi với Tôn Tồn Chân, còn phải tu luyện dài dài. 

Tích tắc sau mặt sông lại tách ra một con đường nước, Tôn Tồn Chân phi thân quay lại cạnh Lục Kiều Kiều, trên tay nhẹ nhàng nắm một con cá lớn. Hắn nhìn con cá, tựa như nhìn đứa con của chính mình, ánh mắt mong mỏi vui sướng khiến khuôn mặt hoàn toàn vô cảm cũng hiện ra một nét cười.

Lúc Kiều Kiều không dây dưa kéo dài thời gian, Tôn Tồn Chân và con cá vừa đến bên cạnh, tay trái cô liền vê lấy ống tay áo phải, tay phải cầm chắc lá bùa thế thân quát lớn một tiếng: “Úm… Sắc thần binh hỏa cấp như luật lệnh! Khứ!” đoạn dính lá bùa lên đầu con cá.

Một ảo ảnh mang hình người màu vàng to như người thật trồi ra khỏi xác Tôn Tồn Chân, theo chữ “khứ”, nhập thẳng vào mình con cá.

Tôn Tồn Chân thoáng thấy chóng mặt hoa mắt, ánh sáng vàng vừa lóe qua trước mắt, Lục Kiều Kiều đứng bên đã hét lớn: “Thả cá!” Hắn lập tức phóng vọt lên không, thả người rơi xuống rạch nước. 

Lần này hắn không chạy qua chạy lại trên mặt nước nữa, mà trầm mình hẳn xuống, hai tay giữ cá nhè nhẹ buông trong nước, con cá vừa trở về với nước liền quẫy đuôi bơi ra xa, mang theo quầng sáng vàng biến mất không tăm tích.

Tôn Tồn Chân ngồi thụp xuống con rạch, nhìn theo con cá đang bơi theo dòng nước, ngoác miệng cười không ra tiếng, rồi đột nhiên từ dưới nước nhảy vọt lên, lộn mấy vòng trên không rồi lại rơi xuống rạch nước, hệt như một con cá vui sướng nhảy lên khỏi mặt nước.

Bọn họ chưa từng được thấy Tôn Tồn Chân cười, cũng không thể tưởng tượng nổi nụ cười của con người không mặt này, nhưng Lục Kiều Kiều, Jack và An Long Nhi biết gã đang cười vui vẻ, cũng bất giác mỉm cười.

Lục Kiều Kiều lấy lại tẩu thuốc từ tay An Long Nhi, nhìn Tôn Tồn Chân đang đùa nghịch trong nước, lầm bầm một mình: “Biển rộng mặc cá nhảy, trời cao mặc chim bay…”

Tôn Tồn Chân thở hồng hộc nhảy lên bờ, người tong tỏng nước nhìn ba người bọn họ nói: “Cảm ơn các vị.”

“Ngươi đã từ bỏ số mệnh, nhưng vẫn là người tu đạo, sống trên đời vẫn phải tuân thủ phép tắc của đạo gia.” Đây là lời khuyên răn chân thành Lục Kiều Kiều dành cho hắn.

Vốn dĩ giới luật của người tu đạo rất nhiều, trong đó năm giới luật lớn nhất được gọi là “Sơ chân giới”, là năm trong số vô vàn giới luật khi tu đạo cần giữ, lần lượt là sát giới, đạo giới, dâm giới, tửu giới và vọng ngữ giới, nếu không thận trọng giữ giới sẽ gặp ác nghiệp báo ứng, nhẹ thì mất hết pháp lực, nặng thì rơi vào ma đạo. Những gì Tôn Tồn Chân làm trước đây chính là phạm vào sát giới, trong quá trình tu hành, phạm sát giới có thể coi như vạn kiếp bất phục, vì vậy Lục Kiều Kiều mới dặn dò hắn.

“Được… Nhưng tôi không từ bỏ số mệnh, mệnh là do mình chẳng phải do trời, tôi đi đây.” Tôn Tồn Chân chắp tay thành Tam thanh quyết trước ngực, cúi người hành lễ đạo gia với ba người.

“Bảo trọng.”

“Bảo trọng.”

An Long Nhi và Jack đều chắp tay đáp lễ từ biệt gã.

“Phải rồi, ngươi nợ ta hai trăm lạng vàng tiền làm phép.” Lục Kiều Kiều không bỏ lỡ cơ hội ra giá dịch vụ bát tự thế thân.

“Được, nhất định sẽ trả. Kiều Kiều, cô bảo trọng.”

“Mệnh là do mình… chẳng phải do trời…” Lục Kiều Kiều quay đi không nhìn Tôn Tồn Chân nữa, mắt dõi ra mặt nước của con rạch nhỏ.

Tôn Tồn Chân nghe cô nói dứt lời, liền quay người đi vào rừng trúc, khuất bóng vào nơi sâu hút càng lúc càng mờ tối.

“Mệnh là do mình chẳng phải do trời?” An Long Nhi như suy tư nhắc lại lời Lục Kiều Kiều.

Lục Kiều Kiều hút một hơi thuốc rồi nói: “Mỗi người tu đạo đều nhằm mục đích này…”

“Tu đạo không phải để học pháp thuật sao ạ?” An Long Nhi càng lúc càng không hiểu. “Cô Kiều, vì sao Tôn Tồn Chân là người tu đạo, cô cũng là người tu đạo mà cô biết nhiều pháp thuật thế còn hắn thì không?”

“Ha ha… Thằng nhóc này cũng biết hỏi đấy. Sắc trời không còn sớm nữa, chúng ta cũng về thôi, vừa đi vừa nói mày nghe.” Lục Kiều Kiều thấy Tôn Tồn Chân đã đi xa, cũng định quay về ăn cơm tối.

/

35

  &nbsp  Lên đầu

61079

Trảm Long 2 – Tranh Đoạt Long Quyết