Xem Nhiều 12/2022 #️ Tượng Kỳ Lân Và Những Ý Nghĩa Phong Thủy, Tâm Linh Trong Đời Sống / 2023 # Top 20 Trend | Bachvietgroup.org

Xem Nhiều 12/2022 # Tượng Kỳ Lân Và Những Ý Nghĩa Phong Thủy, Tâm Linh Trong Đời Sống / 2023 # Top 20 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tượng Kỳ Lân Và Những Ý Nghĩa Phong Thủy, Tâm Linh Trong Đời Sống / 2023 mới nhất trên website Bachvietgroup.org. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tượng Kỳ Lân – một linh vật tưởng tượng trong truyền thuyết, thế nhưng khi nhắc đến những vấn đề, ý nghĩa của Kỳ Lân trong phong thủy và tâm linh với những sản phẩm từ tượng chúng ta vẫn luôn luôn coi chúng vô cùng quan trọng.

Có nhiều những tạo hình khác nhau của Kỳ Lân do ảnh hưởng sâu sắc của những nền văn hóa vùng miền khác nhau của nhiều quốc gia hiện nay. Nhưng khi nhắc đến linh vật này, chúng ta vẫn thường có những tạo hình phổ biến của Trung Quốc và Việt Nam được biết đến như sau:

Khi ở nền văn hóa Trung Quốc, Kỳ lân với nửa rồng nửa thú, trên đầu có sừng, tai chó, trán lạc đà, mắt quỷ, mũi sư tử, miệng rộng, thân ngựa, chân hươu, đuôi bò.

Tại Việt Nam, được tưởng tượng với đôi mắt to, mũi to, mồm ngắn, đặc biệt ở phần đuôi xù ra để toát lên một vẻ ngoài thân quen, vui vẻ, thân thiện, hoạt bát dễ gần.

+ Tóm lại, có thể hiểu đây là Linh vật xuất hiện trong Tứ linh thần thoại, và đó chính là hình ảnh Kỳ Lân. Được người dân biết đến khi thể hiện trong tư cách là chỗ dựa cho Văn Phù bồ tát hay các Hộ Pháp trong tín ngưỡng đạo Phật.

Cho đến thời điểm hiện đại ngày nay thì khi người ta sử dụng những hình ảnh hay tượng Kỳ Lân, Đều có những nét đặc trưng cùng mục đích về trang trí hay phong thủy.

Điển hình về những lối kiến trúc trong không gian sống, Tượng Kỳ Lân được đặt tại Cổng chính, mái nhà, trước cửa hoặc không gian phòng khách để thể hiện những ý nghĩa phong thủy.

Ngoài ra, khi được đặt vào ngữ cảnh là sự trang trọng, tôn nghiêm như các cung điện thời phong kiến, hình ảnh Kỳ Lân còn được ví cho sự biểu trưng cho 3 linh vật đứng đầu thời bấy giờ, đó chính là Vua (Rồng); còn Hoàng Hậu (Phượng Hoàng); và cuói cùng Thái Tử (Kỳ Lân).

Những điều thú vị về Tượng Kỳ Lân Đồng trong đời sống

Như chúng ta đã biết đến những làng nghề đúc đồng truyền thống tại Việt Nam hiện nay, do sự phát triển của kinh tế, nền văn hóa lâu đời đã được xây dựng từ hàng ngàn năm nay đã mang đến sự nở rộ của phong trào sử dụng những bức tượng bằng đồng trong thờ cúng và trang trí.

Cũng từ đó, những pho Tượng phong thủy được ra đời với nhiều kích thước, hình dáng khác nhau để phù hợp với nhiều những nhu cầu khác nhau của khách hàng.

Hiện nay trên thị trường, chúng ta vẫn bắt gặp những sự đa dạng về chủng loại Tượng Kỳ Lân Đồng như sau:

Tượng Kỳ Lân truyền thống: Trong sự tưởng tượng về hình ảnh con Kỳ Lân của người xưa như thế nào, mỗi bức tượng được đúc ra sẽ giống như vậy. Loại Kỳ Lân này vẫn được xem như biểu tượng và cũng là sản phẩm được khách hàng yêu thích nhất hiện nay.

Tượng Long Mã: Hóa thân của Kỳ Lân với sự kết hợp đặc biệt của Rồng, Lân và Ngựa. Long Mã có sừng và bờm của rồng, thân của hươu xạ và có vảy như Kỳ lân, chân của ngựa.

Tượng con Nghê: Kỳ Lân cũng được biến đổi với sản phẩm được ra đời là những con Nghê. Thân của chó, đầu rồng, vảy Kỳ lân và có những chòm lông xoắn ở đầu, mang tai, đuôi và 4 chân.

Ý nghĩa của Tượng Kỳ Lân trong phong thủy và tâm linh

Là một trong tứ linh, Kỳ Lân được con người sử dụng để tránh tà, ngăn chặn những luồng xát khí và giảm nhẹ tai ương. Trong phong thủy, khi sử dụng Kỳ lân, không những mang đến những điều may mắn, mà mỗi bức tượng còn mang đến một vẻ đẹp hoàn mỹ mà hiếm có vật trang trí nào có thể sánh được.

Chính vì vậy, khi nhắc đến ý nghĩa của Kỳ Lân phong thủy chúng ta vẫn thường phải điểm đến những giá trị như sau:

+ Tránh tà và ngăn sát khí tiếp cận: Gia chủ khi sử dụng Tượng đồng vào mục đích này, cần xem xét kỹ lối thiết kế của căn nhà để đặt tượng cho hợp lý.

Thường sẽ được dùng khi hành lang ngắn, có sát khí không quá mạnh; sử dụng 2 tượng khi cửa chính bị hành lang trực xung; còn khi hành lang quá dài và thẳng, hãy sử dụng 3 tượng để hóa giải.

+ Hóa giải Tam Sát: Theo đúng với ý nghĩa Kỳ Lân trong phong thủy, hóa giải Tam Sát sẽ cần 3 tượng Kỳ Lân đặt tại vị trí Tam Sát và quay về đúng hướng Tam Sát.

+ Giảm nhẹ những tai ương và góp phần cải vận: Ngoài trừ tà, tăng phúc lộc cho mọi thành viên trong gia đình, Kỳ Lân còn giúp cho chúng ta xoay chuyển tài vận và tránh được vận xấu xảy ra trong tương lai.

+ Hóa giải hung khí của Phương Bạch Hổ để giúp con người được bình yên, hóa giải các tà khí của các hung tinh sẽ đến trong vận hạn của bạn.

[TIN TỨC LIÊN QUAN] Ý nghĩa tượng nghê đồng trong phong thủy

+ Nên trưng bày tượng đã được khai quang: không chỉ có thể phát huy hết năng lực của kỳ lân, mà còn có thể giúp cho linh vật không bị những luồng khí xấu chiếm giữ, gây tác động xấu tới cho chủ nhà.

+ Đặt tượng trong phòng ngủ: sẽ giúp gia chủ thuận đường sinh con cái hơn. Ngoài ra cũng cần xem hướng, cùng hợp mới mệnh của từng người để đặt.

+ Gia chủ đang cầu cho sự nghiệp thăng tiến, công việc thành công, học hành thi cử đỗ đạt thì nên đặt tượng trong phòng làm việc, hoặc là trên bàn học và bàn làm việc.

+ Để cầu tài lộc, thịnh vượng, may mắn thì gia chủ có thể đặt tượng trong phòng khách.

+ Trước cửa các doanh nghiệp, xưởng sản xuất, tòa nhà cao tầng cũng thường đặt 1 đôi Kỳ Lân để giúp giữ tiền và giữ được người tài giỏi. Đồng thời cũng giúp cho không gian cảnh quan trở nên đẳng cấp hơn.

+ Có thể đặt tượng kỳ lân ở văn phòng công ty, cửa hàng, địa điểm kinh doanh để có thể giúp cho công việc kinh doanh hoạt động suôn sẻ hơn.

+ TUYỆT ĐỐI KHÔNG đặt kỳ lân ở gần cửa sổ, cửa ra vào.

Phật Giáo Và Đời Sống Tâm Linh / 2023

PHẬT GIÁO VÀ ĐỜI SỐNG TÂM LINH

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt Rọi suốt trăm năm một cõi đi về (Trịnh Công Sơn)

Vào lúc 7 tuổi, trong một tình cờ, Thái tử Tất Đạt Đa tham dự buổi lễ Hạ điền. Trong lúc tham dự và quan sát buổi lễ, Thái tử chợt thấy con giun bị con chim bới đất lên và nuốt sống. Cảnh tượng nầy đã ám ảnh nhiều và Ngài liền suy ngẫm đến mọi sự thật của cuộc đời – đến một thực tế không tránh khỏi sự tàn sát lẫn nhau vì sinh tồn trong chúng sinh, hẳn đây chính là cội nguồn của khổ đau.

Trong một lần khác, nhìn thấy một người già, một người bệnh và một xác chết. Ngài không khỏi ray rứt bởi các cảnh tượng đó và đặt câu hỏi tại sao như vậy. Rõ ràng chính Ngài cũng không tránh khỏi những hoàn cảnh như thế và quyết định bỏ cuộc đời trần tục, phát triển ý thức xa lìa dục lạc phù phiếm của cuộc đời và thúc đầy Ngài theo đuổi một cuộc sống khổ hạnh để tìm chân lý tối hậu, dù cho Ngài đang sống cuộc đời vương giả của thời đại lúc bấy giờ.

Ngài đã nhận thức cái đau khổ gắn liền với cuộc sống của chúng hữu tình và biết rằng dù có thỏa thích với các hương vị của ngũ dục đến đâu đi nữa, sau cùng, rồi cũng phải đối mặt với một thực tế của lão, bệnh, tử. Hiểu được điều này và được khích lệ bởi hình ảnh thong dong từ tốn của nhà tu sĩ thoáng cho Ngài hé thấy con đường giải thoát, con đường an vui hạnh phúc. Bốn cảnh tượng nói trên đã thúc dục ngài sớm thoát ly thế tục bằng con đường xuất gia. Thái từ nhất định rời bỏ cung điện đền đài để ra đi, tìm chân lý, An tịnh và Trường cửu.

Một câu chuyện kể rằng Thái tử và người anh em họ Đề Bà Đạt Đa đang dạo chơi trong vườn ngự uyển của hoàng cung, bất chợt Đề Bà Đạt Đa dương cung bắn rơi một con thiên nga, Thái tử vội nhanh chân đến dành ôm con thiên nga bị thương trong tay, vuốt ve làm cho con chim bớt đau đớn. Đây là thí dụ điển hình về sự bộc lộ lòng từ bi, một quan niệm mà mục tiêu cao cả là quý trọng hạnh phúc và làm dịu đi nỗi đau thương người khác.

Sau khi xuất gia để đi tìm chân lý tối thượng, Ngài phát triển trước tiên về phẩm hạnh giới luật thiền định dưới sự hướng dẫn của hai vị đạo sư nổi tiếng là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta trong sáu năm để đạt giác ngộ. Ngài phát hiện ra rằng với thiền định thuần túy không thôi không thể chấm dứt vĩnh viễn được khổ đau và đã đưa vào một chiều hướng mới là thiền định có mục đích trí tuệ. Với sự khám phá này, Ngài đã đạt đến nhất tâm, hướng tâm vào sự hiểu biết bản chất của sự vật và thấu hiểu chân lý. Sự giác ngộ của Ngài chính là kết quả của sự phối hợp thiền định và trí tuệ.

Trong buổi sáng, trước ngày Thành Đạo, Ngài nhận bát sữa gạo do bà Sujãtã dâng lên. Sau khi thọ xong bữa ăn, Ngài nhịn đói luôn 49 ngày, ngồi yên lặng suy niệm dưới gốc cây Bồ Đề. Vừa lúc bình minh, ngày thứ 49, Ngài chứng đắc Quả Vô Thượng, và trở thành vị Phật lúc ba mươi lăm tuổi bằng những nỗ lực phi thường, Ngài đọc lên một bài kệ, hoan hỷ mô tả sự chiến thắng tinh thần vô cùng vẻ vang rực rỡ.

“… Này hỡi người thợ làm nhà,Như Lai đã tìm được ngườiTừ đáy người không còn cất nhà cho Như Lai nữaTất cả sườn nhà đều gãyCây đòn dong của người dựng lên cũng bị phá tanNhư Lai đã chứng nghiệm Quả Vô Sanh Bất Diệtvà Như Lai đã tận diệt mọi Ái Dục” .

Bài kệ mang nhiều ẩn dụ: Như Lai chính Đức Phật, người thợ là ái dục, sự tự tạo ẩn sâu kín bên trong Ngài, một thành phần luôn luôn hiện hữu bên trong mọi người. Cái gì tạo ra thì có thể tận diệt được. Cái sườn nhà tự tạo chính là các ô nhiễm như tham lam, sâu hận, si mê, ngã mạn, tà kiến, phóng dật, hành vi bất thiện… Cây đòn dong chống đỡ cho sườn nhà là vô minh, một căn nguyện của mọi dục vọng. Sự phá vỡ cây đòn dong vô minh làm bằng chất liệu trí tuệ.

Khi toàn bộ vật liệu xây dựng không cần thiết, người làm thợ trở nên vô dụng, lúc đó mọi sự thể đều bị bỏ lại và chỉ còn lại cái tâm đã đạt đến trạng thái vô vi, vô sanh, bất diệt, Niết Bàn.

Với ý chí sắc đá, với trí tuệ siêu đẳng, lòng bi mẫn trời bể, đức vị tha vô lượng, sự truy tìm chân lý tối hậu của Ngài đã đưa đến sự ra đời của Phật giáo. Cũng chính vì thế ta nhận thức được rằng Phật giáo có nghĩa là “Giáo huấn của một con người Giác ngộ”. Mỗi vị Phật là một con người Giác ngộ, một con người đã nhìn thấy sự vật “như nó là”. Phật giáo xuất hiện trên nền tảng thực tiễn như vậy nên là một tôn giáo dựa trên trí thông minh, khoa học và sự hiểu biết, có mục đích giúp cho thế nhân loại trừ khổ đau và các nguyên nhân tạo nên khổ đau trong một chiều kích thật sâu rộng.

Vậy nhìn từ góc độ của Đạo Phật nguyên chất, mọi hình thức tôn thờ hướng vào các vật thể thiêng liêng bằng lễ lạc, nghi thức cúng bái hay cầu khẩn đều không phải là tính cách Phật giáo.

Có lần Đức Phật nói: “ Nếu một người nào đó có thể loại được khổ đau của mình bằng cách cúng dường, bằng sự tôn kính và cầu nguyện, thì sẽ chẳng còn ai trong thế gian này phải chịu gánh khổ đau cả, bởi vì có ai mà lại chẳng biết bày tỏ sự tôn kính và cầu nguyện. Dù cho họ có thật ngoan ngoãn, biết tôn kính và thực thi nghi lễ đều đặn, thế nhưng trên thực tế thì họ vẫn cứ phải chịu khổ đau. Vì thế nên hết sức hiển nhiên, những thứ ấy nhất định không phải là giải pháp hữu hiện giúp họ tìm thấy sự giải thoát khỏi những khổ đau của chính họ “.

(Giáo sư Buddhadasa, Đại học Queenland – Hoang Phong dịch)

Nhìn trên đại thể mà nói, trong kho tàng giáo lý đồ sộ, ngoài những giáo lý có tính cách của nền đạo đức thực tiễn, được lý giải bằng ngôn ngữ có tính thời đại phổ biến, vẫn còn đó cả phần lớn giáo lý thuộc thế giới bàng bạc cái không khí “huyền chi hựu huyền”, như thể một kính vạn hoa phản chiếu muôn vàn ảnh tượng như thực, như hư, như có như không, mà con người với trí năng thông thường, giới hạn của mình không thể thành đạt sự kiến giải.

Chính vì thế, với tính cách uyên áo thăm thẳm mà giáo lý của Ngài tác động gợi nhiều cảm hứng cho các tầng lớp đại chúng lẫn hàng ngũ tri thức.

Chẳng hạn tiêu biểu thử trích lượt một số quan kiến của các học giả tiếng tăm đương đại trên thế giới và họ đã nói gì:

“… Ngài là người đã dựng nên một hệ thống tôn giáo vô cùng cao thâm huyền diệu. Ngài thuộc về lịch sử tư tưởng thế giới. Ngài là kết tinh của người thiện trí. Bởi vì, đứng về phương diện trí thức, chắc chắn Ngài là một trong những vĩ nhân cao thượng nhất của lịch sử…”

(Tiến sỹ Sri Radha krishman – Phạm Kim Khánh, dịch)

“… Nơi Đức Phật ta thấy rõ ràng là một con người giản dị có tâm đạo nhiệt thành, một mình tự lực phát huy ánh sáng tươi đẹp, một nhân vật sống, một con người như mọi người chứ không phải là một nhân vật thần thoại ẩn hiện trong nhiều truyền thuyết hoang đường… Bao nhiêu quan niệm các thế hệ tân thời đều tương hợp với giáo lý ấy. Đức Phật dạy rằng tất cả những gian lao sầu khổ và bất hạnh trong đời đều do lòng ích kỷ sinh ra. Trước khi có thể trở nên vắng lặng, con người cần phải ngừng sống cho giác quan mình. Rồi từ đó, vượt lên trên tất cả mọi người, Ngài sống cuộc đời siêu nhiên… Đứng với tầm quan trọng của con người trong sự phục vụ, Ngài tỏ ra sáng suốt hơn, và đối với vấn đề trường tồn bất hoại của kiếp nhân sinh, Ngài ít lúng túng hơn trong biện thuyết mập mờ…”

(Giáo sư H.G.Wells: Three Greatest Men in History – Phạm Kim Khánh, dịch)

“Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, đức Phật tuyên bố sự giải thoát, mỗi con người có thể đạt được do chính bản thân mình trong đời sống trên thế giới mà không cần đến sự giúp đỡ của Thượng đế hay thần thánh nào. Ngài nhấn mạnh về giáo lý như lòng tự tin, thanh tịnh, nhã nhặn, giác ngộ, an lạc và lòng thương yêu nhân loại. Ngài cũng nhấn mạnh đến sự cần thiết của kiến thức, vì không có trí tuệ thì siêu linh nội tâm không thể xâm nhập vào đời sống của Ngài được.

Từ lúc thành đạo, năm ấy Ngài đúng ba lăm tuổi, đến khi Đại Niết Bàn lúc tám mươi tuổi. Trong suốt thời gian bốn mươi lăm năm Đức Phật không ngừng phục vụ nhân loại bằng giáo pháp và bằng tấm gương chính đời sống Ngài. Khi đến nơi này, lúc đến nơi kia để truyền bá giáo pháp và dẫn dắt nhiều người thoát vòng cương tỏa luân hồi.

Trong những mùa mưa lũ, nước dâng cao, đường sá ngập lụt, thông thường Đức Phật và các đệ tử được cung thỉnh về an cư kiết hạ ở các tu viện hay những khu vườn ẩn dật hoặc rút vào rừng sâu. Những lúc như vậy dân chúng tại địa phương đó theo chân Ngài để nghe giảng pháp.

Giáo pháp của Ngài là những lời dạy có nội dung bắt nguồn từ Chứng pháp mà Chứng pháp là sự nội chứng sâu thẳm, thấu suốt đến tận rốt ráo của vạn pháp (hiện tượng – sự vật), vượt quá so đo, tính toán của thế trí. Giáo pháp chỉ dạy những sự thật của cuộc sống an lạc hạnh phúc, sự thật của phẩm giá cao thượng nơi con người, sự thật đó có sức mạnh chuyển hóa sự ham mê đời sống vật chất, tình tiền, nhục dục…

Vì Chứng pháp quá sâu thẳm, quá lớn rộng nên khi diễn đạt Đức Phật thường dùng các pháp dụ, tức là các ví dụ phù hợp với hoàn cảnh, với thời đại. Ngài là bậc Vô thượng giác, là trí tuệ siêu việt trần thế nên sự giảng dạy đạt đến mức toàn hảo, có công năng làm sống dậy bản chất cao thượng của tâm hồn, là phương thuốc trị bệnh tâm linh cho con người, một căn bệnh trầm kha do tâm lý khao khát ái dục, đã ăn sâu qua vô số đời sống, tạo nên một hấp lực mang nặng chiều hướng bản năng nguyên thủy.

Ngài đi từ những kinh thành lộng lẫy đến những làng mạc xa xôi, ròng rã suốt 45 năm không mệt mỏi. Với hành trang gồm một bình bát, khất thực, với ba tấm y để che thân, đôi chân trần, đầu không nón suốt bốn mùa mưa nắng. Ngài thuyết pháp bằng đủ mọi phương tiện, đều không ngoài mục đích với lòng thương chúng sinh vô hạn.

Đức Phật Nhập Diệt năm 543 trước Tây Lịch vào ngày trăng tròn tháng Vesak, với lời di huấn tối hậu ngắn ngủi “ Hãy nghe đây, này các đệ tử, Như Lai khuyên các con. Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường. Hãy tận lực liên tục chuyên cần “. Đến bây giờ đã gần 26 thế kỷ trôi đi, Đạo pháp của Ngài vẫn cứ rực rỡ chiếu soi như đôi vầng nhật nguyệt.

Sau khi Đức Phật Đại Niết Bàn, các luận sư Phật học lỗi lạc như Ngài Vô Trước, Mã Minh, Long Thọ,… đã phân định Pháp giới để giảng giải theo hai cảnh giới:

+ Chân thật giới hay thế giới tuyệt đối gồm các pháp “vô vi” mang tính cách siêu hình không thể nhận biết qua giác quan bằng khả năng tư duy, biện giải mà chỉ qua nhận thức trực giác do công phu thiền định cấp độ cao, tạm gọi là trí vô phân biệt, không thể nghỉ bàn, và chỉ còn là sự im lặng.

Trung Quán Tông cho rằng thế giới tuyệt đối là Tánh Không. Khái niệm về Tánh Không có hai phạm vi khác nhau: Một mang tính triết học và khoa học nói lên bản chất tối hậu của hiện thực; hai là tính thực dụng xem như một phương tiện hiện hữu đến hóa giải mọi sự bám víu, dính mắc mang lại những rối loạn và khổ đau.

Đức Phật nêu lên Tánh Không như một thể dạng tối thượng của tâm thức và chính Ngài đã xác nhận mình luôn luôn thường trú trong Tánh Không.

Trên phương diện tu tập, người học Phật đã không ngừng kinh ngạc trước các khái niệm mà Đức Phật đã khám phá ra cách đây ngót 26 thế kỷ, nên đã đặt sự xác tín nơi những gì mà người đi trước đã trải nghiệm truyền đạt lại, trong đó chủ yếu là lời dạy của chư Phật, chư Bồ Tát. Đức Phật có lần dạy: “ Tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta”.

Vì thế cho nên từ lúc bước chân vào học đạo, chúng ta phải vận dụng lý trí để hiểu rõ lời Phật dạy, tiếp đó suy niệm xem lời dạy có phải là chân lý (sự thật) không. Và sau rốt lại, khi sự xác tín đã vững vàng, chúng ta nỗ lực hành trì để một ngày nào đó chính ta chứng thực được niềm xác tín đó. Đây quả một sự thách đố cho chính bản thân với những ai có tấm lòng tu học trên mỗi chặng đường tu chứng.

Rõ ràng, niềm xác tín của những thế hệ học Phật, tu Phật, xưa nay ở những gì mà Đức Phật giảng dạy đã đem đến một sự thành tựu lớn lao hơn nhiều so với những gì mà ta chấp là xác thực đem lại cho đời sống hiện thực.

Một ví dụ rất gần gũi: Tin nơi Luật Nhân – Quả:

– Ở cấp độ thô thiển: bây giờ ăn mặn nhiều thì lát sau sẽ thấy khát nước.

– Ở dạng sâu sắc siêu hình hơn, luật Nhân – Quả được thể hiện trong mối quan hệ giữa ba thời quá khứ – hiện tại – vị lai; giữa thế hệ trước và thế hệ sau: Rau nào thì sâu nấy; Con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh. Có thể khái quát nói rằng cái gì “đang là” thế nầy thì phải tiến tới nó “sẽ là” thế ấy, nếu không có sự tác động nội tại hay ngoại tại. Một tiến trình như thế sẽ hé lộ cho ta thấy: cái “sẽ là” ở trong cái “đang là”, và cái “đang là” lại có từ các “đã là”. Mối quan hệ biểu trưng hình ảnh của Nghiệp và Chuyển Nghiệp trong nhà Phật.

+ Hiện tượng giới hay tục đế bao hàm sự vật hiện tượng hữu hình hay vô hình mà giác quan con người cảm nhận được như tinh thần, ý chí, tình cảm… có thể khảo sát được qua phương pháp duy nghiệm. Đạo Phật gọi là pháp “hữu vi” biểu thị hiện tượng hình thành do nhân duyên và cũng là đối tượng của khoa học, trung tâm của ngành vật lý. Vì thế nên khoa học có cái cám dỗ mãnh liệt, cái cám dỗ của chân lý khách quan mà lý trí con người có thể vươn tới được. Thực tế cho thấy, khoa học đã đạt nhiều thành quả to lớn trong hơn thế kỷ nay với sự trợ giúp của công nghệ. Đồng thời bộ mặt của nhân loại cũng thay đổi một cách nhanh chóng trong sự thụ hưởng những tiện ích thông qua các tiến bộ kỹ thuật, xây dựng được xã hội văn minh.

Tuy vậy, con người cần bình tĩnh lại để thấy rằng còn biết bao nhiêu câu hỏi cuộc sống mà vẫn chưa có lời giải đáp: Ngẫu nhiên, hỗn độn là cái gì? Làm thế nào mà trật tự lại có thể xảy ra trong một vũ trụ tuân theo luật entropy tăng. Vấn đề “đa thế giới” của lý thuyết “dây” hay “siêu màng”. Đâu là thực tại nhiều chiều (ít nhất là 10 chiều, có một phần của nó biểu hiện ra 4 chiều không – thời gian). Và các chân lý khách quan đó còn nhắc nhở con người giảm bớt lòng tự hào và loại trừ đi những ảo tưởng về khả năng tính của lý trí mà từ lâu đã nặng nợ với tất định luận, với những pháp suy luận duy lý và qui giản hay nói theo Phật học là còn bị ràng buộc trong tính chất chiêu cảm của Nghiệp lực.

Đức Phật nói: “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành”. Sắc bất dị Không; Tương đối – Tuyệt đối; Ngộ – Mê, đều thể hiện tính cách sự “đẳng cấu” trong Toán học.

Một hình mẫu rất gần với sự hòa hợp giữa cái tương đối và cái tuyệt đối của nhà vật lý Lượng tử đã quá cố David Bohm với ý tưởng thể hiện về cái “trật tự ẩn” và “trật tự hiện” theo thuật ngữ của ông (implicate order & explicate order), Ông là nhà vật lý nổi tiếng làm việc với S.Hawking, R – Penrose nhưng lại có cái nhìn gần với Đạo học Phương Đông.

Ông xây dựng thí nghiệm thế này: Có 2 ống hình trụ đáy kín, cùng trục quay. Ống ngoài cố định, ống trong nhỏ hơn quay được. Đổ vào đó glycerin đầy phần giữa 2 ống. Nhỏ 1 giọt mực vào glycerin, rồi quay ống hình trụ trong. Giọt mực vẽ nên một đường cong mờ dần rồi mất hẳn. Lúc bấy giờ, mỗi điểm trong dung dịch trông thấy đồng nhất. Ông gọi đó là trật tự ẩn. Sau đó, quay ống bên trong theo chiều ngược với một tốc độ thích hợp, giọt mực bất ngờ xuất hiện lại từ hư không, ông gọi đó là trật tự hiện.

Tiếp theo, cho thêm một giọt thứ 2 ở gần giọt mực thứ nhất, rồi quay; giọt thứ 2 và giọt thứ nhất quấn vào nhau và cứ như thế cho đến giọt thứ n. Bây giờ, quay ngược lại với tốc độ hợp lý, giọt thứ 1 tái xuất hiện và lần lượt tiếp thu bởi giọt thứ 2, 3… thứ n. Tất cả chúng đều ở đó.

Ông nói rằng mọi sự kiện quá khứ, hiện tại, vị lai là ở ngay đây, ngay lúc này, nhưng chúng hiện ra tùy vào điều kiện theo cách nào đó. Một số sự kiện trở thành hiện thực, hoặc xảy đến, một số thì không. Nhưng về cơ bản chúng đều ở đó dù chúng ta không thực sự thấy chúng. Đó cũng có nghĩa là sự hòa hợp giữa thế giới tương đối và thế giới tuyệt đối. Và các biểu hiện trong thế giới hàng ngày có vẽ bề ngoài tách bạch chỉ là biểu hiện có điều kiện thích hợp của thế giới tuyệt đối. Chân không mà Diệu hữu. Không tức thị Sắc, Sắc tức thị Không (Bát nhã Tâm Kinh) . Hai thế giới này không phải là hai, nhưng chẳng phải là một.

Thật xúc động với thí nghiệm này (theo cảm nghĩ người viết) một mẫu hình đối chiếu, ở đó Đạo Phật đã không còn xuất hiện như những “tín lý” mà đã xuất hiện dưới những yếu tố xác thực như khoa học đồng thời mở ra nhiều triển vọng để có thể mò mẫm bước vào những chiều kích sâu thẳm tâm linh, vượt qua những khái niệm thông tục về vật chất, về không thời gian và về tương quan một chiều, đã trói buộc chúng ta vào vòng khổ đau không đáng có.

Trong thế giới con người, chúng ta sống tràn ngập trong vọng tưởng và điên đảo. Vọng tưởng là do mê lầm. Do đó vọng tưởng là bị dính mắc vào sự vật, dính mắc vào sự phân chia và cái biết. Chúng ta không thể ở mãi trong cảnh giới tuyệt đối, hay cái Nhất thể, cái Phật tính, mà cũng không thể cứ dính mắc vào thế giới hiện tượng. Chúng ta phải thấy cho được đồng thời cả hai cái tương đối và tuyệt đối và hoạt dụng tự do trong đồng thời cả hai thế giới đó. Đây là sự giải thoát.

Một câu chuyện Thiền: Trước Thiền, đầu tiên thấy núi là núi, sông là sông. Nghĩa là những gì ta nhận thức được là thế giới hiện tượng, mọi thứ được đặc trưng bởi sự khác biệt. Trong lúc đang hành trì Thiền sâu và nắm bắt được sự hòa hợp trong cuộc sống thì đột nhiên núi không còn là núi mà sông cũng chẳng còn riêng sông, chỉ có nhất thể, chỉ có tính duy nhất và lúc này mọi khái niệm phân biệt đều rơi rụng. Sau khi xả Thiền, ta lại thấy núi lại là núi, sông lại là sông như lúc ban đầu, nhưng không còn theo nghĩa tương đối trước khi thực chứng. Điều này nói lên rằng không phải nhận thức là vấn đề, mà là bám chấp sự nhận thức đó là vấn đề.

Trong các kinh điển đều nói lên khái niệm: Tất cả những gì mà chúng ta quán nhận được, hình dung được đều là tâm thức. Điều này có thể diễn dịch, mỗi khi nhận biết một sự vật hiện tượng nào đó thì ngay lúc đó tâm đã gán cho sự vật hiện tượng một nhãn hiệu. Chẳng hạn về 1 lọ cắm hoa hồng. Nhiều người khi đối diện với lọ hoa đã nhào nặn và biến đổi trong tâm thức của từng người, rốt cuộc nó đã trở thành một sản phẩm của chính tâm thức của mỗi người và do đó có thể nói rằng đối tượng lọ hoa không thực sự hiện hữu như chính nó là.

Thông thường khi cảm nhận được các sự vật hiện tượng ở bối cảnh bên ngoài thì sự thu hút của nó sẽ khiến cho tâm thức bám chặt vào hình tướng nó và ta có cảm giác là sự cảm nhận của mình là xác thực. Trạng thái này có hàm một ý nghĩa là tâm thức đã tương tác và hòa nhập với bối cảnh đó, đây chính là lúc tâm thức bị lừa dối và nó sẽ dẫn đến sự duy trì nguyên bản chất sai lầm. Sự sai lầm này của tâm thức, một phần do ta đặt sự quan trọng quá mức vào thế giới bên ngoài; phần khác là sự chi phối thường xuyên bởi tư duy nuối tiếc quá khứ hay sự chiêu cảm của Nghiệp lực.

Thế cho nên hãy tập trung thường trú trong thể dạng tự nhiên là hội nhập với hiện tại. Phương cách này tỏ ra hiệu quả để thực hiện những kinh nghiệm nuôi dưỡng được trạng thái trong sáng của Tâm. Tỉ như hình ảnh mặt nước, lúc bị khuấy động sẽ tạo ra sóng và bọt thì không thấy được sự trong suốt của nó. Vậy hãy hòa mình sống với tâm hồn nhiên, chỉ nghĩ đến thời khắc hiện tại và hòa nhập với thể dạng “phi khái niệm”.

“… Trên sóng lúa, nét chiều thấp thoángMột nét cong xao động tâm hồnTrời khoáng đãng ngây thơ con diều giấyTa thấy mình chưa dễ đã lớn khôn!…”(Hồng Thế)

Khái quát rằng các đối tượng thật sự hiện hữu, thế nhưng chúng không hiện hữu đúng với phong cách mà ta tưởng tượng, cảm nhận về chúng. Nói cách khác, các đối tượng không hề mang thực thể nội tại, hay Tánh Không của chính sự hiện hữu là bản thể tối hậu của nó.

Hiểu biết Tánh Không về mặt trí thức chỉ thực sự có ích khi nhìn thấy thế giới này và cả chính mình đều thay đổi khác đi. Thay đổi để gở bỏ mọi bám víu vào sự vật hiện tượng dưới dạng hình tướng, để chúng tan biến đi, trả lại cho ta một bầu không gian trống không, trong sáng và thanh thoát, mở ra bước chân trên con đường dài thực hiện sự Giác Ngộ. Mong ước đạt sự Giác Ngộ là nền tảng của tỉnh thức, nên việc khởi động nền tảng đó để đạt được mục tiêu mong cầu, chính là Bồ đề tâm.

Sự hiểu toàn vẹn về Tánh Không sẽ có đủ khả năng loại bỏ được vô minh cơ bản (chấp cái tôi và cái của tôi), giải thoát dần những khổ đau, thấy được sự méo mó của tâm thức do hư vọng, do ích kỷ hẹp hòi. Từ đó Bồ đề tâm được phát động và giữ vai trò hết sức quan trọng đối với người học Phật bước vào con đường tâm linh một cách quả quyết.

Kinh Pháp cú có viết rằng:

“Tâm thức dẫn đầu các hiện tượng, chúng nhất thiết là tâm thức, tạo dựng bởi tâm thức”

Rõ ràng, lời dạy của Đức Phật và lời giảng giải của Kinh luận cho thấy bên trong mọi sự vật hiện tượng và phía sau sự dẫn đầu của tâm thức và sự tự tạo dựng ra chính nó sẽ là những gì? Phải chăng là một không gian trống rỗng, “ ở thể dạng hoàn toàn tinh khiết, vô song và tối thượng không có gì vượt hơn cả” mà chính Đức Phật đã thường trú trong đó.

Chúng ta thường mơ màng trên các trang Kinh, cảm nhận được phương tiện thiện xảo của sự cụ thể hóa Tánh Không qua dung nhan sắc màu danh ngôn: Phật tính, Chân Như, Niết Bàn, Pháp Thân, Trí Tuệ Như Lai, Bản thể, Ánh sáng trong suốt trong Cận Tử Nghiệp… Tất cả đều thể hiện như sự tương phản giữa dạng tâm thức giải thoát nhờ an trú trong Tánh Không và tâm thức vô minh ô nhiễm trần tục. Con đường tu tập chính là nỗ lực kiên trì chuyển hóa của tâm thức trong chính chúng ta mà thôi.

“… Để một mai về làm cát bụi Ôi cát bụi tuyệt vời….”(TCS)

(dangconghanh.wordpress.com)

TÀI LIỆU THAM KHẢOĐại Lai Lạt Ma: Tu Tuệ – Hoang Phong biên dịchNXB Hồng Đức, 2013Bernie Glassman: Vòng tròn bất tận. Nguyễn Quyết Thắng dịch NXB Hồng Đức, 2014David Bohm: Tư duy như một hệ thốngTiết Hưng Thái, dịch NXB Tri Thức, 2011

(Thư Viện Hoa Sen)

Giá Trị Văn Hóa Và Những Khía Cạnh Tích Cực Trong Đời Sống Tâm Linh / 2023

Đời sống tâm linh là một hình thức đặc biệt của ý thức con người và ý thức xã hội. Đã có những khuynh hướng sai lầm về vấn đề này: hoặc là tuyệt đối hoá vai trò của đời sống tâm linh, hoặc là đồng nhất đời sống tâm linh với chủ nghĩa duy tâm, với mê tín dị đoan. Theo tác giả, hướng đến thế giới tâm linh dường như là một nhu cầu trong đời sống tinh thần của con người, đồng thời là một trong những cách để con người sống lương thiện hơn, tốt đẹp hơn. Có thể nói, lọc bỏ những yếu tố có màu sắc thần bí và mê tín dị đoan, phần tinh tuý, trong sáng của đời sống tâm linh sẽ hiện ra, đó là những giá trị văn hoá đầy bản sắc và chứa đựng ý nghĩa nhân văn.

Có hay không một thế giới tâm linh huyền bí với những phép nhiệm màu đầy quyến rũ? Điều đó còn cần được nghiên cứu và tranh luận rất nhiều. Tuy nhiên, có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, không có bất kỳ một quốc gia, một dân tộc nào trên thế giới lại không có một đời sống tâm linh hết sức phong phú. Đối với con người Việt Nam cũng vậy, trải qua bao thế kỷ thăng trầm, đời sống tâm linh của người Việt vẫn ẩn hiện đâu đó với những giá trị diệu kỳ. Không chỉ từ xa xưa, mà ngay cả trong thời đại ngày nay, thời đại của khoa học – công nghệ, thời đại của tri thức và văn minh, những vấn đề của thế giới tâm linh, của đời sống tâm linh vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển, vẫn tiếp tục được đặt ra với không biết bao nhiêu bí ẩn, khêu gợi trí tò mò và cả những thách đố lớn lao đối với khoa học chân chính.

Những lý do nào khiến cho đời sống tâm linh tồn tại một cách lâu dài, bền bỉ như vậy? Chắc chắn là không phải chỉ bởi những hạn chế, những yếu kém trong nhận thức của con người. Nếu chỉ vì những lý do đơn giản, tầm thường, thì nhất định niềm tin của con người về thế giới siêu nhiên, về thế giới tâm linh sẽ không thể mãnh liệt và có sức sống lâu bền. Chúng ta không thể nhìn nhận đời sống tâm linh của con người một cách đơn giản, ngây thơ, không thể nhìn nhận bằng tư tưởng, quan điểm của chủ nghĩa duy vật tầm thường. Nói cách khác, chúng ta phải xem xét vấn đề này từ góc độ thế giới quan duy vật biện chứng.

Dù muốn hay không, chúng ta cũng phải thừa nhận một thực tế hiển nhiên là những vấn đề thuộc về đời sống tâm linh sẽ còn tồn tại rất lâu dài trong đời sống xã hội loài người. Đúng như Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”(1). Rõ ràng, chừng nào con người còn tư duy, chừng đó mối quan hệ giữa hai thế giới, thế giới vật chất và thế giới tinh thần vẫn còn tồn tại. Và, trong mối quan hệ này, những vấn đề thuộc về đời sống tâm linh sẽ không thể bị xóa bỏ một cách đơn giản trong một sớm một chiều bằng những tư tưởng chủ quan duy ý chí. Ngoài ra, sức sống của thế giới tâm linh còn xuất phát từ những khía cạnh mang ý nghĩa tích cực nội tại. Đó chính là những giá trị văn hoá sâu xa, ẩn chứa sau bức màn tâm linh sâu thẳm. Trong bài viết này, chúng tôi muốn tập trung khai thác vấn đề này.

Trước hết, cần nói qua một chút về khái niệm đời sống tâm linh. Chưa nói đến những người có niềm tin tôn giáo, những người mà trong tâm thức của họ lúc nào cũng hiển hiện hình ảnh của Chúa, của Phật, mà chỉ nói đến những con người bình thường, chúng ta cũng thấy vô vàn những biểu hiện của đời sống tâm linh. Ngày Tết Nguyên đán, dù đi đâu ở đâu, dù xa xôi cách trở, chắc hẳn ai cũng muốn sum họp với gia đình, với người thân, ai cũng muốn quay về với quê hương, cội nguồn để thắp nén hương trên bàn thờ cầu khấn vong linh của các bậc tiên tổ được siêu thoát, phù hộ độ trì cho con cháu mạnh khoẻ, may mắn, ăn nên làm ra. Một người lính lúc lâm trận, xông pha giữa làn bom đạn, được đồng đội hy sinh thân thể để che chắn cho mạng sống của mình, chắc chắn người lính đó sẽ suốt đời nhớ đến hình ảnh thiêng liêng của người đồng đội lúc ngã xuống. Bước chân vào một nghĩa trang liệt sỹ, ta không thể không xúc động trước vong linh của những con người đã hy sinh xương máu cho Tổ quốc, cho nhân dân. Một cán bộ lãnh đạo cao cấp hay một người dân bình thường, khi viếng thăm khu di tích Kim Liên, ai cũng muốn dâng một nén hương tưởng niệm công ơn to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh…

Có thể thấy rằng, tất cả những hiện tượng nêu trên đều là những biểu hiện cụ thể của một đời sống tâm linh vô cùng phong phú. Vậy, đời sống tâm linh chính là đời sống hướng về những giá trị tinh thần thuần khiết, thiêng liêng, cao cả được đúc kết qua lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc và nhân loại. Đời sống tâm linh chính là một hình thái đặc biệt của ý thức con người và ý thức xã hội. Không thể có đời sống tâm linh, nếu như con người không có ý thức. Tuy nhiên, ý thức nói chung của con người hết sức rộng lớn. Do đó, không phải bất cứ điều gì thuộc về đời sống ý thức của con người cũng đồng thời thuộc về đời sống tâm linh. Có thể thấy rằng, tính chất quan trọng nhất của đời sống tâm linh trước hết là sự thiêng liêng, cao đẹp. Thế giới tâm linh phải là một thế giới mà ở đó, chỉ những gì cao cả, lương thiện, đẹp đẽ mới có thể vươn tới và tồn tại. Không biết từ bao giờ, những vấn đề thuộc về đời sống tâm linh đã đồng hành cùng với con người và xã hội loài người.

Trong một thời gian khá dài, vấn đề đời sống tâm linh với những khía cạnh văn hoá và những giá trị đích thực của nó đã được xem xét từ hai khuynh hướng cực đoan, có tính đối lập gay gắt và do đó, đều đưa đến những kết quả sai lầm đáng tiếc. Với khuynh hướng thứ nhất, một số người đã thổi phồng, tuyệt đối hóa vai trò và giá trị của đời sống tâm linh, cho rằng thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của thế giới tâm linh đầy huyền bí. Những câu chuyện hoang đường về việc chụp được ảnh linh hồn, về thần giao cách cảm, về gọi hồn, lên đồng, nhập hồn, thoát xác… đã xuất hiện từ lâu nay lại được tiếp tục khơi dậy. Ở một mức độ nhất định, chúng là cơ sở nuôi dưỡng những tư tưởng mê tín, dị đoan tầm thường và thấp kém. Ngay cả trên một số phương tiện thông tin đại chúng, thỉnh thoảng cũng có những mẩu tin giật gân, câu khách đầy màu sắc hoang đường, đến mức khiến ngay cả những đầu óc duy tâm và mê tín nhất cũng phải nghi ngờ tính xác thực của chúng. Vậy, đâu là nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại của những hiện tượng này? Cái gì đã khiến người ta tin vào những hiện tượng nhảm nhí như vậy? Theo chúng tôi, quan điểm duy tâm, sự thổi phồng, tuyệt đối hóa giá trị và ý nghĩa của đời sống tâm linh cùng với chủ nghĩa kinh nghiệm, lối tư duy siêu hình máy móc, sự xa rời phép biện chứng duy vật chính là những nguyên nhân cơ bản. Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên (Nhà xuất bản Sự thật ấn hành năm 1971) có chương Khoa học tự nhiên trong thế giới của thần linh(2). Chương này được Ph.Ăngghen viết vào nửa đầu hoặc giữa năm 1878. Cho đến nay, đã hơn 100 năm trôi qua, song những vấn đề được ông trình bày trong đó vẫn còn nguyên giá trị. Ph.Ăngghen cho rằng, “sẽ không sai lầm khi đi tìm cái cực đoan của ảo tưởng, của tính cả tin và mê tín”(3) không phải chỉ ở triết học duy tâm, mà còn ngay cả ở những người làm công tác khoa học, đặc biệt là ở những nhà kinh nghiệm chủ nghĩa, những người mà theo ông, “chỉ dựa vào thực nghiệm nên rất coi khinh tư duy và trong thực tế lại nghèo về tư tưởng hơn”(4). Ph.Ăngghen cũng nhấn mạnh rằng, nếu khinh miệt phép biện chứng thì không thể không bị trừng phạt. Sự trừng phạt này thể hiện ở chỗ, “nó đưa một số người thực nghiệm chủ nghĩa tầm thường nhất sa vào chỗ dị đoan ngu xuẩn nhất, sa vào thần linh học”(5).

Tuy nhiên, sai lầm của khuynh hướng thứ hai cũng đáng sợ và nguy hiểm không kém sai lầm của khuynh hướng thứ nhất. Một số người, khi giương cao ngọn cờ duy vật nhưng lại bỏ quên tính biện chứng đã vội vàng quy kết rằng, tất cả những gì thuộc về tâm linh và đời sống tâm linh đều đồng nghĩa với chủ nghĩa duy tâm, đều là sự mê tín, dị đoan và do đó, đều cần phải xoá bỏ. Đã có những thời kỳ người ta rầm rộ đập phá đình, đền, miếu mạo và xem đó là việc làm đồng nghĩa với việc xoá bỏ những tàn tích của chủ nghĩa duy tâm cùng với nạn mê tín, dị đoan của chế độ phong kiến. Nhiều di tích lịch sử đã bị tàn phá, nhiều danh lam thắng cảnh đã bị xâm phạm hoặc hủy hoại. Nhiều công trình văn hóa có giá trị và ý nghĩa tâm linh sâu sắc đã không còn nữa. Hiện nay, không còn bóng dáng của những ngôi đình cổ ở nhiều làng quê đồng bằng Bắc bộ và miền Trung. Những ngôi đền, ngôi miếu thờ các vị Thành hoàng làng cũng đang dần biến mất. Những biểu tượng “cây đa, bến nước, sân đình” bây giờ dường như chỉ còn trong hoài niệm. Với đà phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường thiếu nhãn quan văn hóa, với lối sống thực dụng, chạy đua theo các nhu cầu của đời sống vật chất trước mắt; đặc biệt, với lối tư duy duy vật tầm thường, có lẽ chẳng bao lâu nữa, văn hóa tâm linh, đời sống tâm linh rực rỡ, giàu bản sắc của người Việt trong quá khứ sẽ chỉ còn là những “hoang mạc khô cằn”. Đối với quan điểm duy vật tầm thường, đời sống tâm linh hoặc là không hề có giá trị văn hóa, hoặc nếu có cũng chỉ là những giá trị không đáng kể. Thực ra, không phải bất kỳ ai cũng có thể dễ dàng nhận ra những giá trị tinh thần có sức mạnh to lớn tiềm ẩn trong tín ngưỡng và trong đời sống tâm linh của con người. Đã có những lúc chúng ta không hiểu được rằng, nếu bắn vào quá khứ bằng súng lục sẽ bị tương lai trả lời bằng đại bác… Rõ ràng, nếu nhìn nhận vấn đề tâm linh, tín ngưỡng bằng cặp mắt duy vật tầm thường, bằng lối tư duy siêu hình máy móc, bằng những suy nghĩ giản đơn sẽ đưa đến những sai lầm hết sức nguy hiểm.

Thực ra, tâm linh, đời sống tâm linh, văn hoá tâm linh,… là những vấn đề hết sức tế nhị. Cho đến nay, rất nhiều câu hỏi nảy sinh xung quanh những vấn đề đó vẫn chưa có lời giải đáp thực sự khoa học và nghiêm túc. Tuy nhiên, nếu soi xét vấn đề dưới lăng kính của thế giới quan duy vật biện chứng, chúng ta có thể thấy những sự thực khá đơn giản. Bất kỳ ai cũng dễ nhận thấy rằng, việc hướng về thế giới tâm linh dường như là một nhu cầu tất yếu trong đời sống tinh thần của con người. Nhu cầu này giúp con người xoa dịu những nỗi đau trần thế, vượt qua được những khó khăn, những thử thách nghiệt ngã của cuộc đời dù chỉ là về mặt tinh thần. Khi gặp những nỗi đau, những điều bất hạnh, bất kỳ ai cũng có nhu cầu được sẻ chia, được an ủi. Và, những lúc rơi vào tình huống như vậy, có lẽ rất nhiều người sẽ hướng về thế giới tâm linh để cầu mong một sự che chở, vỗ về, dù họ biết chẳng bao giờ có một phép màu nào cả. Những nỗi đau quá sức chịu đựng của con người nhỏ bé, yếu đuối và mong manh vẫn thường xẩy ra trong cuộc đời ngắn ngủi. Một người vợ mất chồng, một người cha mất con trong những tai nạn giao thông phũ phàng chắc chắn sẽ vô cùng đau khổ. Họ sẽ làm gì nếu không hướng về thế giới tâm linh để được tiếp thêm nguồn sức mạnh tinh thần, để được an ủi, vỗ về. Dù khoa học, công nghệ có tiến bộ đến đâu đi chăng nữa, dù tri thức, hiểu biết của con người có phát triển đến mấy đi chăng nữa thì những tai nạn bất ngờ, những căn bệnh nan y vẫn cứ xảy ra và cướp đi cuộc sống của những con người vô tội. Có lẽ, chừng nào trên trái đất này còn có những khổ đau và bất hạnh thì chừng đó, con người còn có nhu cầu hướng về thế giới tâm linh và do vậy, đời sống tâm linh vẫn tiếp tục tồn tại. Đúng như C.Mác đã từng khẳng định, tôn giáo chỉ là “thuốc phiện của nhân dân”, chỉ mang lại sự đền bù có tính hư ảo. Tuy nhiên, khi trình độ phát triển của con người còn có những hạn chế, thì sự đền bù đó cũng có giá trị nhất định, dù chỉ là về mặt tinh thần. Dĩ nhiên, với thế giới quan duy vật biện chứng, chúng ta không bao giờ được phép đắm mình trong sự an ủi giả tạo của đời sống tâm linh. Nhưng với tư duy biện chứng, chúng ta hiểu rằng có một sự đền bù hư ảo dù sao cũng hơn là chẳng có bất cứ một điều gì.

Hướng về thế giới tâm linh không những là một nhu cầu, mà dường như còn là một cách giúp con người sống lương thiện hơn, tốt đẹp hơn. Thế giới tâm linh, đời sống tâm linh chính là sự khát khao của con người về chân lý, về cái hoàn mỹ và hạnh phúc vĩnh hằng. Tất cả những người có thế giới quan duy vật biện chứng, có kiến thức khoa học đều hiểu là Thượng Đế, Chúa Trời hay Đức Phật,… không hề tồn tại đích thực. Nhưng dù sao, từ trong sâu thẳm tâm hồn, ai cũng khát khao, mong mỏi và đợi chờ những điều tốt đẹp. Xã hội sẽ tốt đẹp hơn và con người sẽ hạnh phúc biết bao nhiêu nếu ngay tại cuộc sống trần thế này không còn những rủi ro, bất hạnh. Trong khi đời sống hiện thực còn có những khó khăn, còn có những tệ nạn, những bất công thì những mơ ước, khát vọng của con người về một thế giới lý tưởng vẫn tiếp tục được biểu hiện qua những biểu tượng vĩnh hằng thuộc về thế giới tâm linh. Trong nhiều câu chuyện thần thoại và cổ tích, phép màu và các sức mạnh siêu nhiên là một phương thức để cái thiện chiến thắng cái ác, cái tốt vượt lên trên cái xấu, cái cao thượng thay thế cho sự thấp hèn. Cứ mỗi lần cô Tấm bé nhỏ gặp phải những nỗi đọa đày thì ông Bụt lại hiện ra để thực hiện thiên chức của mình, mang lại sự công bằng xã hội. Những nhân vật như Lý Thông, như mẹ con nhà Cám,… cuối cùng đều phải đền tội, đều bị trừng phạt một cách xứng đáng. Nếu sự thực luôn diễn ra đúng như vậy thì cái ác, cái xấu sẽ chẳng còn nơi ẩn nấp. Trong thực tế, con người không dám làm điều xấu, không dám gây ra tội ác là do sợ bị pháp luật trừng phạt, sợ bị lên án bởi đạo đức, lương tâm, bởi dư luận xã hội và có lẽ, có một phần không nhỏ là do sợ bị trừng phạt bởi thánh thần. Rõ ràng, tác dụng ngăn ngừa cái xấu, ngăn cản cái ác, đưa con người đến với cái thiện, cái tốt của đời sống tâm linh là hoàn toàn có thật. Chúng ta đều biết, có nhiều con đường, phương thức để giáo dục và hoàn thiện nhân cách con người, mà một trong số đó, theo chúng tôi là đời sống tâm linh. Đây cũng là một khía cạnh tích cực trong các giá trị đích thực của đời sống tâm linh.

Ngoài ra, đời sống tâm linh còn tạo ra sự đoàn kết, tạo ra sự kết nối quá khứ – hiện tại – tương lai. Đời sống tâm linh có sức lan truyền mạnh mẽ, tạo ra những cảm xúc, rung động thiêng liêng và do đó, có tác dụng tập hợp, đoàn kết, gắn bó con người một cách có hiệu quả. Sự thiêng liêng trong bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt đã khiến kẻ thù run sợ. Hòn Vọng Phu bị phá sập đã gây nên sự tiếc nuối trong biết bao trái tim người Việt. Hồ Gươm ở thủ đô Hà Nội gắn liền với sự tích Hoàn Kiếm vừa huy hoàng và đẹp đẽ, vừa trang nghiêm, đầy vẻ linh thiêng. Đó là một biểu tượng tuyệt vời của ý chí độc lập tự chủ, kiên cường, thượng võ, song cũng đầy chất lãng mạn của dân tộc. Từ sự tích thần Kim Quy thời An Dương Vương đến truyền thuyết rùa vàng rẽ sóng nhận gươm thời vua Lê Thái Tổ là cả một hành trình lịch sử đầy sóng gió, trong đó đời sống tâm linh là một trong những cơ sở quan trọng giúp cha ông ta vượt lên trên sự đồng hóa tàn bạo của các thế lực xâm lược ngoại bang. Đối với mỗi gia đình, bàn thờ tổ tiên là biểu tượng hết sức thiêng liêng, có sức mạnh lôi cuốn các thành viên quây quần, đoàn tụ để tưởng nhớ về cội nguồn, duy trì những giá trị truyền thống nhằm chuyển giao cho các thế hệ mai sau. Con người là một sinh vật kỳ diệu, có khối óc biết suy nghĩ để phân biệt phải trái, đúng sai; có trái tim biết rung động trước những giá trị văn hóa tinh thần đẹp đẽ, cao cả. Từ đó, hình thành nên một đời sống tâm linh sâu thẳm, phong phú và có sức cuốn hút mạnh mẽ đến kỳ diệu. Gạn lọc và bỏ đi những yếu tố có màu sắc mê tín, dị đoan, phần tinh tuý trong sáng trong đời sống tâm linh sẽ hiện ra, đó là những giá trị văn hoá đầy bản sắc và có ý nghĩa nhân văn. Có thể khẳng định rằng, những giá trị văn hóa của đời sống tâm linh là bền vững và có những ý nghĩa tích cực nhất định. Chúng không những tạo ra những sức mạnh tinh thần, mà còn có thể tạo ra những sức mạnh có tính vật chất thực sự. Đó là những giá trị mà chúng ta phải nhận thức một cách sâu sắc và đầy đủ.

(1) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.21. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.403. (2) Chúng tôi sử dụng tác phẩm Biện chứng của tự nhiên được xuất bản từ năm 1971 là vì trong C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, t.20, phần in về Biện chứng của tự nhiên (từ tr.451 đến tr.826) chúng tôi không thấy có chương này.

(3) F.Ăngghen. Biện chứng của tự nhiên. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1971, tr.62.

Ý Nghĩa Tâm Linh Của Tượng Phong Thủy Phúc / 2023

Ngày nay hầu như mọi gia chủ thường đặt tượng phong thủy Phúc – Lộc – Thọ ở nhà và văn phòng của mình. Ba vị thần bất tử trong Phong Thủy Phúc – Lộc – Thọ là những biểu tượng cho cuộc sống trường thọ, danh vọng và tài sản. Có rất nhiều truyền thuyết về những vị thần này. Nếu bạn thờ cúng thì nên biết ý nghĩa tâm linh phong thủy của 3 vị thần này như sau:

Ông Phúc là vị thần tượng trưng cho phước lành, may mắn, sức khỏe và hạnh phúc. Vị thần này thường bế trên tay một đứa bé trai hoặc có nhiều trẻ em vây quanh. Ông Phúc là hiện thân của sự may mắn, tri thức.

Ông Lộc (Thần Tài) tượng trưng cho sự giàu có, thịnh vượng. Ông Lộc thường mặc áo xanh lá cây vì “lộc” được phát âm gần giống với chữ lục. Ông Lộc thường cầm một đĩnh vàng trên tay, tượng trưng cho sự giàu có, thịnh vượng, “tiền bạc chất như núi”.

Ông Thọ tượng trưng cho sự trường thọ. Ông Thọ có hình ảnh là một ông già râu tóc bạc phơ, tay cầm quả đào (biểu tượng của sự bất tử) hoặc gậy chống với nụ cười ấm áp luôn nở trên môi.

Nên đặt tượng 3 vị thần Phúc – Lộc – Thọ ở vị trí nào trong nhà?

Cách đặt tượng 3 ông Phúc – Lộc – Thọ thường được bày theo thứ tự cụ thể như sau:

+ Tượng ông Phúc: đặt bên phải – tượng trưng cho phước lành và năng lượng may mắn

+ Tượng ông Lộc: đặt ở giữa – tượng trưng cho thành công và tài chính ổn định

+ Tượng ông Thọ: đặt bên trái – tượng trưng của cuộc sống lâu dài, thanh bình

Bạn nên đặt tượng 3 ông Lưu ý khi đặt tượng Tam Đa: Khi đặt tượng Tam Đa trong nhà, văn phòng, cần có lư hương và đèn để thờ cúng. Gia chủ nên dùng đồ ngọt, hoa tươi để cúng 3 ông Phúc – Lộc – Thọ ở những vị trí cao, giúp thu hút năng lượng tốt, tích cực trong nhà như đặt ở một chiếc bàn cao trong phòng khách hoặc kệ cao trong văn phòng, tránh đặt tượng ở nhà bếp, phòng tắm và phòng ngủ. Phúc – Lộc – Thọ.

Thông báo chính thức: Giadinh360 (thuộc WebsiteViet) không hợp tác với bất kỳ ai để bán giao diện WordPress và cũng không bán ở bất kỳ kênh nào ngoại trừ Facebook và zalo chính thức.

Chúng tôi chỉ support cho những khách hàng mua source code chính chủ. Tiền nào của nấy, khách hàng cân nhắc không nên ham rẻ để mua phải source code không rõ nguồn gốc và không có support về sau! Xin cám ơn!

Bạn đang xem bài viết Tượng Kỳ Lân Và Những Ý Nghĩa Phong Thủy, Tâm Linh Trong Đời Sống / 2023 trên website Bachvietgroup.org. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!